HỒN XỨ QUẢNG

“Nếu có thể phải trả lời một câu hỏi của anh rằng “Lời ru nào đã cho em cảm xúc thi vị nhất trong cuộc đời này?”, chắc rằng em sẽ không ngần ngại mà nói, đó chính là tiếng hát của biển khơi, hay là lời ru của sóng, của đại dương, giữa vòng nôi đêm mông mênh, thênh thang… không sắc màu. Và em tin rằng anh sẽ cảm được, vì bởi anh đã từng viết trong ca khúc của mình “Sóng dịu dàng xô giấc hư hao…”, với nền nhạc là cả một khúc biến tấu vĩ đại của trùng khơi. Cũng như anh vậy, tình yêu âm nhạc trong em không bao giờ vơi cạn cho dẫu tháng năm đã để lại thật nhiều dấu vết trên thân xác con người, và thế đấy, dường như bất kỳ hoàn cảnh nào cũng dẫn dắt cảm xúc trong em trở về với những melody đã đi qua đâu đó ở cuộc đời này-có mình nơi đấy. Em muốn nói với anh rằng, tiếng sóng ru à ơi…dưới những ngón tay anh ngày nọ qua từng phím dương cầm, đã theo chân em một đêm nào, nơi chỉ có bọt biển tung lên, trắng lóng lánh trên nền trời thăm thẳm không thắp nổi một vì sao. Hơi thở dồn dập và mặn chát của biển khơi như òa vỡ trên thịt da, và nữa, sự đồng lõa của lũ cát mịn dưới bàn chân trần, của cơn gió buốt lạnh ào ạt xô nghiêng, tất cả là một sự cộng hưởng tuyệt vời, nguyên vẹn như cảm giác khi người ta đã thực sự chạm vào điều linh thiêng nhưng đầy mộng mị đó là Tình Yêu! Âm nhạc của anh đã vô tình bám rễ trong tâm tư em ngày tháng ấy, nơi chốn ấy. Và em nhận ra tâm hồn mình vẫn thơ trẻ một tình yêu, tròn đầy và mặn nồng trong vòng tay của gió biển, trong tiếng thở của sóng đêm, và trong nhịp đập dại khờ của trái tim người!”
…..
Người ta thường mượn cảm xúc từ âm nhạc để tìm về kỷ niệm, và chính những nốt nhạc mang tên sóng biển của anh chiều nay đã đưa tôi trở lại bờ biển đêm nồng nàn ngập gió hôm nào. Những kỷ niệm êm đềm trong chuyến đi ngày ấy, nơi thành phố biển xinh đẹp cách Sài gòn gần 1000km có lẽ sẽ mãi mãi ấm áp như thân tình anh em đất Quảng Nam giành cho riêng tôi. Tôi tin rằng mình có quyền dùng chữ “riêng” ấy với đầy đủ ý nghĩa của nó.
NGƯỜI ĐÀ NẴNG
Như một cơ duyên, tôi đặt chân đến thành phố Đà Nẵng vào một buổi sáng quá trưa mưa phùn mềm oặt, mưa không đủ ướt và lạnh tê nhưng đủ để thấm đẫm câu hát dân ca “Đất Quảng Nam chưa mưa mà đã thấm. Rượu hồng đào chưa nhấm đã say…”. Và trong không khí se se ẩm ướt ấy, khuôn mặt hiền hòa của anh với mái tóc nghệ sĩ biếng chải, râu cằm biếng cạo, nụ cười đầm ấm và cái nắm tay rất đỗi chân tình đón tôi và người bạn đồng hành ngay khi vừa bước qua cửa sân ga. Tôi chưa từng tiếp xúc với anh nhiều lần trước đó, nhưng ngay lúc ấy, trong tôi là tình cảm của một đứa em gái khi gặp lại anh – thi sĩ Phạm Thư Cưu, nơi thành phố của chính anh, mà đã một đôi lần anh nói rằng rất thiết tha được hội ngộ cùng tôi nơi đây. Đà Nẵng hôm ấy là một ngày khô ráo nhất sau ba ngày liên tiếp mưa sập sùi không dứt. Tôi nhận ra điều ấy khi con tàu băng qua những cơn mưa trắng xóa cả đất trời, mênh mông các cánh đồng ngập ngụa màu bùn đùng đục suốt từ Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam… Những tưởng rằng sẽ chỉ “trùm mền” hay “ngồi chơi xơi nước” trong nhà khi đến Đà Nẵng! Tôi nói đùa với Thư Cưu “Em mang nắng Sài Gòn ra cho anh đây!”. Anh cười, giọng cười hồn hậu và ấm áp như những sợi nắng mỏng của đất trời xứ Quảng cuối mùa bão giông.
Trưa hôm ấy chúng tôi dùng bữa bằng món bún chả cá Đà Nẵng, nóng hổi, sạch sẽ và đậm đà hương vị biển với giá 12.000 đồng một tô! Ở Sài Gòn chắc khó tìm được điều này. Một ấn tượng tốt đầu tiên với tôi về Đà Nẵng.
Buổi chiều Thư Cưu đưa chúng tôi về nghỉ ở nhà anh Văn Nho, một người bạn thân của anh, ở bán đảo Sơn Trà. Sơn Trà được nối liền với thành phố Đà Nẵng bằng cầu Thuận Phước lừng lững bắc ngang qua biển. Đó là một ngôi nhà xinh xắn, có rất nhiều hoa và ngập nắng. Tôi hỏi anh Nho “ Sao anh không treo màn cửa cho bớt nắng?”, anh trả lời rằng anh thích nắng luôn ngập tràn nhà anh như thế! Có lẽ tâm hồn anh bao giờ cũng lung linh và rực rỡ như nắng vậy! Những ngày ở chơi nhà anh, tôi thich ra vườn ngắm những chậu hoa các loại mà anh trồng “lung tung”, từ phong lan, hoa hồng, hoa mai, cúc đồng tiền, lan ý, đến xương rồng, hoa trang, dâm bụt, bông giấy, thủy trúc, trầu bà… rồi cắt cành đem vào cắm thành nhiều lọ hoa đủ sắc màu trắng vàng đỏ tím thật rạng rỡ. Anh Nho thích điều ấy, tôi có thể nhận ra niềm vui trong mắt anh. Còn tôi, luôn cảm động vì cử chỉ ân cần, tử tế và thân thương anh giành cho chúng tôi. Bốn anh em tôi đi chợ, mua về những con cá biển tươi rói, chiên xù, um chuối chát, kho nghệ… theo cách dân xứ Quảng, rồi quây quần hàn huyên, đàn hát, ngâm thơ trong những bữa cơm rất đỗi thân mật. Câu chuyện của anh em tôi cứ thế râm ran qua những buổi café sáng lất phất mưa bay, những chiều nắng tắt thật nhanh và cơn mưa ào ạt đổ…, sẻ chia cùng nhau những trăn trở của cuộc sống hôm nay vốn dĩ vui ít buồn nhiều, những điêu linh từ biết bao tháng năm quá khứ và cả những ngại ngần cho tương lai mai sau! Anh Nho là một tay chơi guitar classic tuyệt vời, một nhà thơ, nhạc sĩ sáng tác, hát và ngâm thơ rất hay. Điều thú vị hơn nữa, chính anh lại là một Thạc sĩ toán học! Thật đúng là nhân tài đất Quảng Nam…Những ngón đàn của anh như xoáy vào hồn mỗi khi anh đệm cho tôi hát. Có lẽ chưa bao giờ tôi được hát bằng một xúc cảm diệu vợi như thế.“Yêu người xong chết được ngày mai. Yêu như loài ma quái…đi theo ai cuối chân trời…”, những ca từ ấy, giai điệu ấy với tôi tự ngày nào đã trở thành kỷ niệm, giờ lại được lồng vào một kỷ niệm thân ái nữa.
TRẦM MẶC HỘI AN PHỐ CỔ
Tôi đến Đà Nẵng đây là lần thứ hai sau 24 năm. Trong ý niệm của tôi, Đà Nẵng chính là Quảng Nam, không có gì phân biệt, cho dù bây giờ người ta đã phân chia Quảng Nam-Đà Nẵng thành 2 tỉnh khác nhau. Đã nhiều lần trong suốt 24 năm qua tôi mong muốn có dịp được trở lại nơi đây, nhưng cuộc đời vốn là những cơ duyên, chưa đến duyên thì không sao gặp được. Chuyến đi này lẽ ra cũng đã bị hủy bỏ vì nhiều lý do, nhưng cuối cùng, tôi nghĩ rằng mình phải đi thôi, bởi một sự thôi thúc nào đó không lý giải được. Thành phố này quả là xinh đẹp với tất cả cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, núi, biển, dòng sông, những chiếc cầu lộng lẫy…Người bạn đồng hành dễ thương của tôi, anh là người Quảng Nam, nghiễm nhiên đã trở thành một “tourist guide” rất tốt trong những ngày lưu tại thành phố này. Địa danh đầu tiên anh đưa tôi đến là Hội An.
Có lẽ cái tên Phố cổ Hội An đã trở nên quá quen thuộc và có một sự lôi cuốn riêng của nó. Thành phố bé xíu này nằm ở một vị trí khá đẹp khi khách du lịch có thể đến đó từ Đà Nẵng bằng con đường dọc theo bờ biển Cửa Đại hay là xuôi theo con sông Thu Bồn mênh mông dập dìu những thuyền chài. Phố nhỏ – lối nhỏ – nhà nhỏ. Mái ngói phủ rêu xanh. Tường gạch cũ. Ít người và thưa xe cộ. Tất cả tạo nên dáng vẻ trầm mặc và nhịp sống chậm rãi của Hội An. Chúng tôi cuốc bộ qua những con đường trong khu vực phố cổ, ghé mắt vào những cửa hiệu quần áo (sờ vào phỏng tay vì toàn giá tiền USD!). Tất cả những điểm muốn tham quan như chùa Cầu, nhà cổ… đều phải được mua vé. Dân du lịch rong rêu như bọn tôi đành “bye-bye”!!!. Anh bạn rủ tôi đi vào một cái “kiệt”, tức là hẻm nhỏ, chỉ vừa đủ cho một chiếc xe gắn máy chạy qua, bên trong có quán café nhạc sống khá thơ mộng. Tôi thích style của quán và muốn chiêm ngưỡng giọng hát dân Hội An nhưng tiếc rằng đến 8pm họ mới chơi. Anh bạn tôi chỉ tay lên những căn gác nhỏ phía trên “kiệt” có cửa sổ và balcon be bé trổ ra ngoài trông giống những chuồng chim câu, và mơ màng nói “Tuổi thơ anh có những ngày sống nơi đây, trong những căn gác và hẻm nhỏ như thế này!”. Có lẽ anh đang để cho dòng chảy của ký ức xuôi về một góc nhỏ tuổi thơ.
Phố cổ Hội An, mà trước giờ tôi chỉ nhìn thấy qua hình ảnh hoặc qua những giai thoại của bạn bè, khen có chê có, nhưng với tôi, cảm nhận đấy là một nơi chốn thanh bình, cho dù có thể chỉ là sự yên bình ở mặt ngoài của cuộc sống. Hội An lặng lẽ và xưa cũ như đúng tên gọi “phố cổ” của nó. Và có lẽ, Hội An đang mang trong lòng một nỗi niềm khi sự trầm mặc đang bị con người lợi dụng để thương mại hóa ngày một nhiều hơn! Nếu là một định hướng đúng hơn trong phát triển công nghệ du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa, tôi tin rằng người ta sẽ thay đổi quan điểm trong việc xây dựng phong cách khai thác du lịch Hội An.

MÌ QUẢNG TÚY LOAN
Rời Hội An, chúng tôi đi dọc theo bờ sông Thu Bồn ghé thăm vài người bạn, rồi trở về Đà Nẵng, xuôi theo hướng Tây Nam đến Túy Loan, huyện Hòa Vang, nơi nổi tiếng với món ăn đặc sản xứ Quảng. Bạn tôi bảo “Mì Quảng Túy Loan quê anh là nổi tiếng nhất Quảng Nam đấy nhé!”. Thật vậy, có lẽ đấy là tô mì Quảng tuyệt nhất mà tôi được thưởng thức từ khi biết đến món ăn này, bụng hỏi dạ “Có phải vì mình quá đói hay không mà sao ăn mì ở đây ngon thế?”, đặc biệt là chiếc bánh tráng mè mà chất lượng không thể nào tìm được trong các quán ăn ở Sài thành. Bắt chước anh bạn, tôi cũng làm gan đưa trái ớt xanh bé xíu lên cắn một phát, hậu quả…nước mắt đầm đìa (!). Không hiểu phải duyên nợ chi không mà tôi vốn có cảm tình với ẩm thực miền Trung, với cái hương vị mặn mòi và cay nồng đậm đà như con người và mảnh đất nhiều gian nan khốn khó này.
Túy Loan, quê hương bạn tôi, cũng thơ mộng như tên gọi của con sông ấy. Đấy là một làng quê nhỏ, thuộc loại làng cổ với đình làng nổi tiếng được xây dựng từ cuối thế kỷ 18, thời vua Thành Thái. Chúng tôi đi trên những con đường đất mềm nhão dẫn vào thôn, hai bên là những vạt ruộng nhỏ và hàng tre, bờ dậu xanh um, thỉnh thoảng có vài chú rắn bò lên phóng ngang mặt đường, cảm nhận cuộc sống người dân nơi đây vẫn lẫn khuất thật sâu sau bóng râm của lũy tre làng. Tôi không khỏi chạnh lòng khi bạn tôi chợt trở nên xa vắng, giọng anh đều đều “Đây là quê nhà anh đây, nơi thửa ruộng này ngày xưa anh chăn bò và chăn vịt, em thấy đường vào nhà anh có nên thơ không, non xanh nước biếc chứ?”. Bỗng ùa về ngập hồn mình một ngày tháng mười long lanh nắng hồn nhiên trên mắt trên môi, cũng hương đồng nội, cũng màu xanh mạ non, cũng giọng nói thân quen…và không biết được đâu là hoài niệm, đâu là thực tại, cũng không hiểu được tại sao mình lại ở nơi chốn này khi ấy. Có phải cuộc đời này là sự kết nối của những dấu chấm không anh?
BÀ NÀ – HẸN LẠI MỘT LẦN NHÉ!
Từ Túy Loan lên khu du lịch Bà Nà không mấy xa, chúng tôi quyết định đi luôn trong buổi chiều hôm ấy, dù đã được cảnh báo là rất lạnh mà tôi thì chỉ mang theo chiếc áo khoác mỏng tanh dùng để che …nắng! Con đường dẫn lên Bà Nà được tu chỉnh thật đẹp với hai hàng cây cảnh vén khéo. Chiếc xe gắn máy cũ kỹ mượn của một người bạn có vẻ khó nhọc khi đưa chúng tôi lên được nơi đây. Bà Nà hiện ra xanh rì dưới gầm mây trắng đục. Phương tiện duy nhất để lên núi là cáp treo, với giá 300.000 đồng một vé, gần bằng với giá vé tàu Sài Gòn – Đà Nẵng! Một lần nữa dân “du lịch ba lô bụi” bọn tôi lắc đầu. Tôi hẹn lòng mình, để khi khác vậy, và theo anh đi ra con suối chảy róc rách phía sau Bà Nà Restaurant. Có lẽ đoạn đường từ sáng đến chiều cũng đủ khiến chúng tôi thèm được thò tay chân xuống giòng nước trong khe và lạnh toát ấy. Dù sao cũng an ủi là được hưởng một chút cảm xúc hoang dã từ con suối nhỏ này.
Chúng tôi quay về Đà Nẵng trong ráng chiều đầy sắc tím. Thành phố có vẻ sống động hơn sau một ngày tương đối khô ráo. Dọc theo bờ kè bãi biển Thanh Bình người dân thả bộ hóng mát, chơi thể thao khá đông vui. Mặt trời như một quả cầu lửa từ từ rơi xuống mặt biển…hình ảnh ấy không thể không khiến chúng tôi phải dừng xe lại mà chiêm ngưỡng. Biển chiều ấy sóng rất cao, từng đợt sóng vỗ ầm ào vào bờ mang theo hơi gió thật mặn, nồng nàn vị khơi xa. Tôi không cảm thấy lạnh dù gió rất lớn, chỉ cảm thấy lồng lộng trong hồn mình một hoàng hôn vỡ nghiêng trên đầu những con sóng bạc…
HUYỄN HOẶC ĐÊM MỸ KHÊ
Xưa nay tôi có một cô bạn rất thân người Đà Nẵng. Cô hay kể với tôi về bãi biển Mỹ Khê bằng tất cả sự nhung nhớ êm đềm. Tôi chỉ biết lắng nghe và chia sẻ phần nào cảm xúc của bạn mình. Chuyến đi này tôi không thể không đến nơi đây. Buổi tối hôm ấy, sau khi dạo một vòng, chén no nê với bún chả cá và chè lạnh, bọn tôi vù ra biển Mỹ Khê.
Trời tối nên không đủ để tôi có thể cảm nhận đầy đủ vẻ đẹp của Mỹ Khê. Và mặc dù cơn mưa đang chực chờ trong hơi gió lạnh toát, bầu trời vắng bóng những vì sao, nhưng không ít những đôi tình nhân vẫn đưa nhau ra biển. Tôi chợt nhớ đến Dốc Lết – Nha Trang một đêm nào, cũng những lời ru của sóng, cũng bầu trời đêm thăm thẳm, cũng vời vợi một nỗi niềm… Có lẽ biển đêm bao giờ cũng cất giữ hộ ai đó những xúc cảm, những hoài niệm, và nói hộ ai đó lời tự tình, có khi chỉ là với chính mình. Bước về phía biển, tôi thả lỏng cơ thể mình trong vòng tay của gió, lặng yên với lời thì thầm của thiên nhiên-bóng tối và sóng cả, để hiểu rằng đâu đó trong cuộc đời này tôi vẫn còn có thể nhận được yêu thương, vỗ về và nâng niu, cho dù chỉ là thoáng chốc. Tôi nhớ bàn tay ân cần và những cái vuốt ve âu yếm mà biển đã tặng tôi trên bờ cát mịn đêm hôm ấy, nhớ nụ hôn thật thà của đại dương gởi vào từ nghìn khơi, nhớ những hạt bụi mưa li ti bám trên tóc trên áo như những hạt tình từ trong trái tim tôi òa vỡ, nhớ tất cả như một cơn mê rụt rè tuổi hoa niên bỗng ngược thời gian quay trở lại bằng những gót chân trần… Và cơn mưa đột ngột ùa về theo sau một cơn gió lốc mang tôi trở lại với thực tại. Thực tại đẫm ướt và lạnh thấu xương. Có lẽ hiếm khi nào tôi biết mình lạnh đến như thế, tôi cố cắn chặt môi và gồng mình dưới cái buốt giá trong cơn mưa hung dữ của xứ Quảng. Giã từ Mỹ Khê và những xúc cảm huyễn hoặc trong đêm, tôi phải về thôi – cùng thể xác và tâm hồn gần như sắp đóng băng trong tiếng mưa thê thiết trên mặt phố…
HẢI VÂN MÙ SƯƠNG
Có thể xem đấy là một giấc mộng khi đến với Hải Vân chập chùng trong mây.Vẫn bằng phương tiện xe hai bánh, chúng tôi đã đặt chân lên đỉnh đèo Hải Vân một buổi sáng nắng thật mỏng và thật nhẹ, với đoạn đường đèo 10km và độ cao gần 500m so với mặt nước biển. Hải Vân quan, trên đỉnh đèo Hải Vân, được xây dựng từ thời Minh Mạng, là ranh giới Huế và Đà Nẵng. Cảm giác khi uống một ly café buổi sáng trên Hải Vân quan thật là diệu kỳ!

Thú thật là một đứa nhát gan như tôi cũng cảm thấy hơi run khi bắt đầu lên đèo. Nhưng rồi vẻ đẹp của thiên nhiên như bức tranh thủy mặc đã khiến tôi quên đi nỗi sợ. Biển mênh mang diệu kỳ lấp lánh trong nắng sớm nằm dịu dàng bên cạnh núi như người đàn bà suốt đời chung thủy. Ở lưng chừng đèo, khi còn khoảng 3km thì lên tới đỉnh, đã thấy màn mây phủ chụp ngọn núi, mây lửng thững giăng ngang một màu trắng rất mộng mơ. Tôi thấy mình đứng giữa biển và mây, giữa không gian thanh khiết không gợn chút khói bụi ô nhiễm mà những ngày sống thường nhật tôi vẫn phải hứng chịu, giữa màu xanh thăm thẳm của lá rừng, và sự thinh lặng như càng sâu hơn trong tiếng vọng của gió núi. Chúng tôi dừng lại, nói ba câu chuyện với cô chủ quán ven đường và chụp một vài bức ảnh. Tôi leo lên một hòn đá, nhìn ra biển, những khúc quanh của núi uốn lượn trông như những bán đảo trên biển và tạo nên từng mảng màu xanh đậm nhạt trên nền trời thật tuyệt diệu.
“Còn 3km nữa thì lên đến đỉnh!”, anh bạn bảo tôi và chúng tôi lại tiếp tục. Càng lên cao Hải Vân càng huyễn mặc bởi mây và hơi lạnh toát ra từ khe núi. Biển mỗi lúc một xa hơn và lá cây ven đèo cũng có vẻ như sậm màu hơn. Tôi thấy tai mình hơi ù đi cũng như thân thể thấm đẫm mùi vị của sương núi. Có một thoáng tôi nhắm mắt lại để lặng nghe tiếng gió, thanh âm của sự hoang dã, của biển khơi và mây ngàn Hải Vân.
Thế rồi chúng tôi cũng đã lên đến đỉnh Hải Vân, như một mong ước mà muốn thực hiện được cũng không là quá dễ dàng đối với tôi, một người sống cách xa nơi đây 1000km. Đèo Hải Vân ngoạn mục và hiểm trở là một hình ảnh mời gọi trong tôi từ những ngày rất xa, qua những bức ảnh lịch treo tường, những câu chuyện kể, và hôm nay tôi đã được chạm vào Hải Vân quan, một di tích lịch sử trên đỉnh con đèo này. Chúng tôi dừng xe, vào quán gọi hai tách café sữa nóng, và nhận ra niềm vui thật nhẹ trong mắt nhau. Bạn tôi vui vì anh đã giúp tôi thực hiện được điều tôi mong ước. Còn tôi, vui vì điều gì hẳn đã quá rõ ràng. Từ đây tôi có thể nhìn thấy rất rõ đoàn tàu hỏa đang chui vào lòng núi như một con rít nhỏ, thật thú vị. Và từ đây, tôi trông về phía Huế, dãi đất thần kinh với nhịp sống chậm rãi và khung cảnh nhiều chất thơ mà tôi đã một lần dừng chân trong nhiều ngày.
Đèo Hải Vân một ngày dịu dàng trong nắng sớm, trong những dãi lụa trời trắng phau và lặng lẽ muôn đời bên từng con sóng bạc đầu, sẽ mãi mãi là một ngày mang nhiều nỗi nhớ!

PHẬT NGỌC TRONG NẮNG BUỔI MAI
Sẽ là một sự đáng tiếc nếu đến Đà Nẵng mà không viếng Chùa Linh Ứng, một công trình kiến trúc Phật giáo đẹp nhất Quảng Nam – Đà Nẵng . Đấy là một buổi sáng nắng trong veo như những sợi pha lê mỏng, và mặt biển lóng lánh muôn ngàn chùm hoa nắng, chiếc xe máy cũ kỹ lại đưa chúng tôi đi theo con đường dốc ngoạn mục vào sâu trong Sơn Trà. Chùa Linh Ứng, bãi Bụt, trên bán đảo Sơn Trà, nguy nga hướng ra biển với cảnh quan tuyệt vời trên độ cao vài trăm mét. Từ xa đã có thể trông thấy tượng Quán Thế Âm sáng như ngọc, trắng lấp lánh dưới ánh bình minh. Tượng Phật vĩ đại cao 67m, được xây dựng cả một toà tháp 17 tầng bên trong lòng tượng. Sóng biển vẫn rì rào muôn đời dưới chân Quán Thế Âm Bồ Tát. Đôi mắt Người hướng ra ngoài khơi xa như đang thấu hiểu cuộc mưu sinh của loài người hằng ngày vẫn diễn ra trên mặt biển, và tôi tin rằng vị Bồ Tát mang hiện thân “Mẹ” trong tư tưởng của người Việt ấy, cũng vẫn luôn lắng nghe những nỗi đau của con dân nước Việt đã nằm sâu trong lòng đại dương từ bao ngày trong quá khứ và cho mãi đến hôm nay. Theo các tư liệu và hình ảnh được trưng bày tại thư phòng nhà chùa, thì vào năm 2009 đã có hiện tượng hào quang tỏa sáng phía trên tượng Quán Thế Âm, và người ta đã chụp được bức ảnh hào quang ấy. Tôi dạo một vòng quanh khắp ngôi chùa rộng lớn này, giữa một buổi mai nắng rực rỡ trên từng phiến đá, nắng quấn quít trên từng vạt hoa cúc dại vàng li ti bò khắp các bậc cấp và khuôn viên sân chùa, và hít đầy lồng ngực cả một mùa gió biển êm đềm, lắng nghe tiếng sóng vỗ rầm rì tựa như lời hát kệ trên đầu non xa…



BẰNG HỮU
Chuyến “du lịch bụi” lần này có thể nói là một cơ duyên của tôi với người xứ Quảng, đặc biệt hơn vì đó là những anh em văn nghệ sĩ, hoạt động chuyên hoặc không chuyên trong lĩnh vực nghệ thuật, người thì là họa sĩ vẽ tranh, nghệ sĩ thư pháp, người thì là nhà thơ, nghệ nhân sưu tầm đá… nhưng hầu hết ai cũng có thể có một vài câu thơ bỏ túi để đọc trong lúc trà dư tửu hậu, hoặc có thể hát say mê bằng tất cả nỗi niềm. Họ là những người bạn vong niên của anh bạn tôi, mà năm xưa khi còn sinh sống ở Đà Nẵng anh đã kết giao với biết bao thân tình.
Chúng tôi được mời tới dự đám giỗ ở nhà anh Thế Mẫn,một người anh cả trong nhóm, với sự ân cần của tất cả các anh chị bằng hữu. Bạn tôi như một người em út lâu ngày trở về đoàn tụ trong vòng tay gia đình, niềm vui luôn rạng rỡ trên nụ cười và nét mặt rất đỗi hồn nhiên của anh. Còn tôi, người khách đặc biệt, hay đúng hơn là một đứa em gái nhỏ, lần đầu tiên từ phương xa đến với thành phố này, lại càng được ưu ái hơn! Buổi tiệc có quá nhiều rượu…và các anh say sưa đọc những vần thơ của mình, cũng không thiếu sự hài hước từ những câu chuyện cười. Tôi nhớ mãi giọng thơ ấm như chén rượu nồng giữa cơn mưa phùn còn lưu luyến mãi giữa đất trời Đà Nẵng của anh Thư Cưu, nhớ tiếng hát truyền cảm của chị Hoàng, nhớ những câu thơ dí dỏm của anh Đạt Nhân…và rất nhớ, nhớ thật nhiều những lời dặn dò ân cần chu đáo của anh Thế Mẫn – một nghệ sĩ thư pháp với nhiều tác phẩm tuyệt vời…Tôi lắng nghe những gì anh Thế Mẫn thầm thì khi anh bảo tôi nâng ly cùng anh, chân tình như một người anh với những đứa em trong gia đình,và bất chợt thấy lòng mình chùng lại, nỗi buồn nào bỗng đi qua …Trong phút giây ấy, tôi hiểu mình cần phải trân trọng suy nghĩ của anh, dẫu rằng có phải vào một vai diễn bất đắc dĩ nào đó trong cuộc đời này. Có thể buổi tiệc hôm ấy sẽ là một cuộc họp mặt vui vẻ đậm đà nhất đối với tôi sau này, và mặc dù thiếu ngón đàn lả lướt của anh Văn Nho nhưng tôi cũng không thể không cống hiến hết mình bằng 2 bài hát theo kiểu “acapela” – Phượng yêu, Nửa hồn thương đau . Và bạn tôi, vẫn muôn đời thủy chung với “Nha trang ngày về …mình tôi trên bãi khuya…” của Phạm Duy, có lẽ hương vị mặn mà nơi thành phố biển này đang gợi nhắc trong anh những kỷ niệm về cuộc tình ngày xưa ấy nơi miền cát trắng. Không biết có phải vì một chút men say không mà khi ra về anh nói nhỏ vào tai tôi “Hôm nay em hát bài Phượng Yêu và Nửa Hồn Thương Đau nghe rất phê…!”. Tôi cười, cũng thấy lâng lâng “yêu người yêu phượng”…và một thoáng “chân trời tím ngắt” dọc theo bờ biển trên suốt quãng đường về – dù hoàng hôn chưa xuống, chỉ là bởi cảm xúc đột nhiên như suối cuộn trong hồn!
Sau buổi tiệc ở nhà anh Thế Mẫn, chúng tôi ghé thăm vợ chồng anh Xuân Sơn và thưởng thức tài nghệ nấu mì Quảng cũng như tiếng hát ngọt ngào cao vút của chị Vân. Chị bảo rất vui khi gặp tôi và cố gắng tổ chức một đêm văn nghệ, thắp nến và uống rượu, đàn hát và ngâm thơ…, nhưng rất tiếc tôi không thể ở lại thêm dài ngày để có thể vui cùng chị. Giã từ vợ chồng anh Sơn chị Vân, chúng tôi đến thăm anh Hồ Công Khanh tại một villa nhỏ ở ngoại ô thành phố. Trước khi gặp anh Khanh bạn tôi đã nói “Anh sẽ đưa em đến gặp một người khá đặc biệt mà ở nhà anh ấy cái gì cũng có…!”. Câu nói của anh khiến tôi càng thêm tò mò. Quả thật, anh Khanh là một nhân vật có sở thích rất đặc biệt và cũng là một nhà thư pháp nổi tiếng. Anh sưu tầm rất nhiều món đồ cổ như đồng hồ, điện thoại , đèn dầu, tranh ảnh…Nhà anh như một thư viện sách cũ với nhiều dãy kệ trên tầng gác. Tôi như lạc vào thế giới của tuổi thơ ngày nào khi bắt gặp những tựa sách, tạp chí hay những tuyển tập nhạc đã được xuất bản từ hơn nửa thế kỷ trước ở miền Nam Việt Nam mà ngày xưa mình đã từng biết đến. Lạ một điều, tất cả đều được bảo quản rất tốt dù khí hậu và thời tiết nơi đây rất ẩm ướt vào mùa giông bão. Anh Khanh nói, anh đã phải nhọc công để gìn giữ “gia tài văn hóa” này, vì trước kia nhà anh ở vùng lũ lụt, rất khó khăn trong việc bảo quản sách vở.
Chia tay vợ chồng anh Khanh mà trong lòng tôi vẫn thấy tiếc vì không có điều kiện về thời gian để “sục sạo” cái thư viện mini của anh. Vẫn còn in nguyên trong tôi cảm giác bồi hồi khi cầm trên tay những tuyển tập nhạc của Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương…với bìa sách ố vàng nhưng nguyên vẹn, không rách nát, tựa như đời sống của những ca khúc ấy, cho dẫu đã cũ kỹ bởi con số của năm tháng nhưng vẫn tồn tại mạnh mẽ trong lòng người yêu nhạc và biết thưởng thức giá trị của âm nhạc.

RONG RÊU HÈ PHỐ…
Những ngày ngắn ngủi nơi đây, chúng tôi lang thang qua những con phố dọc ngang, tìm vào quán café cóc đông nghịt nằm trên một con đường chính – Café Long. Tôi được biết, ngày nào cũng như ngày nào, ngày làm việc cũng như ngày nghỉ, từ sáng đến tối mịt, quán lúc nào cũng đầy ắp người, mà đa phần là thanh niên nam nữ, họ chuyện trò rôm rả, có người vào đây chỉ dán mắt vào tờ báo. Tôi trộm nghĩ, có lẽ Đà Nẵng đang thiếu việc làm và thiếu trường đại học cho giới trẻ! Tất nhiên, một góc quán như thế cũng thể hiện ít nhiều nét sinh hoạt của người dân. Và phải công nhận một điều, ngồi nơi đây cũng khá thú vị, với chiếc ghế đẩu gỗ nho nhỏ khiêm tốn và ly café ngon chỉ cỡ bảy nghìn đồng, bạn có thể ngắm nhìn phố xá đông vui hay những cơn mưa lãng mạn, ngắm cả mấy cô nàng “rất sinh viên” và “rất model”, có thể chuyện gẫu cả ngày… mà không ngại làm phiền hoặc gây sự chú ý với ai.
Thông thường khi đi du lịch người ta vẫn thích chọn nơi ăn uống là những quán hàng nổi tiếng, bọn tôi thì khác, du lịch rong rêu nên cơm nhà là chính, thỉnh thoảng đi tìm một tô bún chả cá nóng hổi với rất nhiều rau xanh, hay là món thịt heo cuốn bánh tráng và bánh ướt chấm mắm nêm hương vị đặc sắc, buổi tối buồn buồn chở nhau đi ăn chè rồi mua về mấy ổ bánh mì “Đồng Tiến” rất ngon mà chỉ có 10.000 đồng một ổ… Tất cả những điều ấy đã là một kỷ niệm rất dễ thương nơi thành phố này!

HỒN XỨ QUẢNG – NGÀY VỀ MƯA MAU!
Ngày vui nào rồi cũng qua nhanh. Ngày tôi đến Đà Nẵng vẫn loáng thoáng những sợi mưa còn sót lại. Ngày tôi về trời mưa như trút nước từ chập tối hôm trước. Đêm nằm nghe gió hú từng cơn từ biển vọng vào vách núi. Thư Cưu đội cả cơn mưa trắng trời đến cùng anh Nho chở hai đứa em ra ga. Anh cười thật tươi nói trong tiếng mưa “…lên xe trời đổ cơn mưa hỉ?”. Tôi nhớ hoài câu nói đùa của anh!
Mưa miền Trung thật là hung dữ. Lúc lên cầu Thuận Phước, cây cầu đã trở thành nổi tiếng vì đã có mấy trường hợp bị gió hất văng qua khỏi thành cầu, tôi có cảm giác chiếc Wave của anh Nho chao đảo, anh nói gì đó nhưng tôi không thể nghe, chỉ có tiếng gió rít ù ù bên tai và mưa quất vào mặt rát buốt. Đường phố rất vắng người, bọn tôi ghé vào một quán café cóc khi trời vẫn chưa ngớt mưa, anh Nho đi mua về mấy ổ bánh mì cho anh em điểm tâm. Tôi thấy thương anh chi lạ! Và bỗng nhớ thật nhiều khu vườn nhỏ “linh tinh” phía sau nhà anh, nơi có rất nhiều cỏ hoa và ngập nắng, như lời hát dung dị và thanh thoát của anh hôm nào “Yêu người không dám tỏ. Thôi về yêu cỏ hoa…” (*)
Anh Nho phải tham dự một buổi hội thảo sáng hôm ấy nên đành chia tay chúng tôi ngay quán café. Lại cũng là Thư Cưu đưa chúng tôi ra ga trong cơn mưa réo rắt. Tôi nắm bàn tay anh mà nghe ấm áp một tình thân. Sau lưng anh màn trời vẫn một màu trắng đục, và những sợi mưa quấn quít, đan xiên như mái tóc anh rối bời đã có quá nhiều sợi trắng.
Thôi em về nhé, tạm biệt Đà Nẵng và những ngày đầy kỷ niệm, tạm biệt thành phố biển xinh đẹp cùng những ân tình, chẳng biết khi nào em mới quay trở lại nơi đây, tạm biệt các anh, và xin – tạm biệt một lần nữa nụ cười hồn nhiên rộng mở trên sân ga một sáng mưa mau – “nụ cười mây trắng như là trăm năm…”(**)!

(*)Ca khúc Văn Nho
(**)Thơ Phạm Thư Cưu

Advertisements

%(count) bình luận

  1. Bài viết hay. Mà những bức hình em chụp cũng đẹp lắm. Chắc anh sẽ sử dụng chúng trong tương lai, ở tập san PU 4. Khi nào xong (vài ngày nữa) PU3, anh gởi cho em và Thái.
    Anh NHO

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: