VĨNH BIỆT ANH – Điếu văn Lễ tang Dr. Phạm Doãn Luyện 2014

Bác sĩ Phạm Doãn Luyện sinh ngày 11/11/1952 tại Hải Phòng, là con trai trưởng trong gia đình gồm 7 anh chị em. Năm 1954 anh và bố mẹ di cư vào miền Nam và trưởng thành tại Sài Gòn. Anh đã từng theo học trường Trung học Võ Trường Toản  và tốt nghiệp Đại học Y khoa Saigon năm 1977.

Trong những năm đầu mới ra trường, BS Phạm Doãn Luyện làm công tác điều trị tại BV Đa khoa Rạch Giá tỉnh Kiên Giang, và cũng chính tại nơi đây anh đã phải trải qua một giai đoạn thăng trầm và thống khổ nhất của cuộc đời. Năm 1985,  anh đưa vợ cùng con gái trở về Sài Gòn sinh sống và làm việc tại BV Nhi Đồng II. Nhưng có lẽ BS Luyện vốn có duyên nợ với người dân miền Tây Nam bộ nên sau đó anh đã mở một phòng khám tại Huyện Ba tri tỉnh Bến tre, hoạt động trong suốt gần 10 năm và gắn bó thật nhiều cùng với những bệnh nhân nghèo của vùng quê miền sông nước.

Ngay từ những năm còn ở bậc Trung học, BS Luyện đã biểu lộ khuynh hướng tư tưởng Triết học và năng khiếu văn chương, cùng  tư chất thông minh  với thành tích thi đỗ một lần cả 3 trường Đại học Nha Y Dược tại Sài gòn vào năm 1970. Có thể nói, anh đã là niềm tự hào cho cha mẹ, không chỉ ở lĩnh vực học vấn mà còn ở tính cách hiếu thảo, xốc vác, không nề hà những công việc gia đình như gánh nước, rửa bát, lau nhà… Mặc dù vóc dáng thư sinh với cặp kiếng cận gọng vàng luôn đeo trên sống mũi nhưng người con trai trưởng trong gia đình luôn chứng tỏ sự vững vàng, bản lĩnh trong tất cả mọi tình huống, là chỗ dựa vững chắc cho các em và cả cha mẹ. Việc anh theo học ngành Y và trở thành một bác sĩ, thực sự đã gắn vào cuộc đời anh trọng trách đối với cả gia đình, người thân và xã hội, và anh đã hoàn thành  trách nhiệm ấy cùng với một tình thương yêu bao la anh giành cho mọi người. Là một bác sĩ giỏi, gắn bó phần lớn cuộc đời với người dân nghèo miền Tây Nam bộ, anh đã thực sự cống hiến cho đời tài năng và trí tuệ của người thầy thuốc với lời thề Hypocrates không một chút vụ danh vụ lợi.

Mặc dù là một Bác sĩ Tây Y, nhưng anh cũng đã bỏ công sức và thời gian để nghiên cứu bộ môn Đông Y với cách điều trị bằng châm cứu, cũng như tác dụng của các loại cây lá, thảo dược.Đồng thời  với khuynh hướng  sẵn có, anh đã tìm đến với tất cả các dòng Triết học từ Tây sang Đông, tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới , và đặc biệt nghiên cứu sâu sắc Triết học Phật giáo trong suốt gần 40 năm. Những năm cuối cùng của cuộc đời, BS Phạm Doãn Luyện đã tích lũy những nghiên cứu của mình thông qua công cụ internet,  để viết thành những đề tài gây tranh cãi khá lớn trong giới tu sĩ và cư sĩ Phật giáo trên các trang mạng xã hội. Cũng từ đó mà anh có được sự ngưỡng mộ cũng như tình cảm trân quý từ rất nhiều các blogger và cộng đồng Facebook. Những công trình nghiên cứu của anh về Phật học phần lớn mang tính chất phản biện, vì thế mặc dù bị công kích khá mạnh nhưng chắc chắn sẽ là một kho tàng tư liệu quý giá đối với những ai có tâm nguyện mở rộng tầm nhìn tôn giáo.

Ngày 30/10/2014 vào lúc 12giờ 22phút, sau một thời gian ngã bệnh khá ngắn ngủi, BS PDL đã trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay thương yêu của cả gia đình, vợ con và các em khi chỉ còn 12 ngày nữa là đến sinh nhật lần thứ 62. Những  tiến bộ của Y học, cộng với tình cảm và sự quan tâm sâu sắc của các Giáo sư, Bác sĩ là những bạn cùng khóa Trường Y Sài gòn với BS PDL cũng không thể cứu anh thoát khỏi bàn tay số phận.  Người ra đi mang theo tình thương yêu ruột thịt, ân nghĩa bạn bè, sự xót thương và lòng ngưỡng mộ của cộng đồng. Sự chia tay với cuộc sống của BS PDL trong lúc năng lực trí tuệ còn rất dồi dào thật sự là một điều đáng tiếc, đồng thời với vai trò người cha, người chồng,  người anh đầu đàn, sự ra đi của anh đã để lại trong lòng tất cả người  thân trong gia đình sự hụt hẫng và tiếc thương vô bờ.

Niềm đau đã thật sự òa vỡ, những giọt nước mắt đã tuôn rơi, khi tiếng khóc vụt cất lên như xé toang căn nhà nhỏ là khi ấy anh đã thật sự rời bỏ chúng tôi. Mặc dù luôn ý thức  rằng chồng, cha và anh chúng ta đang trên con đường về cõi Niết bàn nhưng chúng ta vẫn không thể ngăn được niềm đau của sự mất mát quá lớn này. Những gì anh đã để lại cho cuộc đời  sau 62 năm làm người là một chữ TÌNH thật trọn vẹn, và là một chữ THỨC luôn tồn tại vĩnh viễn. Đúng vậy, BS PDL đã tỉnh thức cho đến giây phút cuối cùng, anh đã ngồi lên, nói những lời cuối cùng, vĩnh biệt người thân, đưa bàn tay vuốt tóc người vợ và đứa con gái duy nhất đầy thương yêu trìu mến. Sau đó anh dùng những hơi thở yếu ớt còn lại đọc chữ “AUM”, cả gia đình đã niệm theo anh, ngôi nhà nhỏ như vang lên tiếng chuông chùa… Và như thế người anh, anh cha, người thầy vĩ đại của chúng tôi đã trút hơi thở cuối cùng sau 7 phút niệm Phật. Có nghĩa là chỉ sau 20 phút về đến nhà bằng xe Cấp cứu.

Anh Luyện kính yêu của chúng em, Ba thương yêu vô vàn của Thiên Lương,khi sống anh đã giành cho Cậu Mợ, cho các em, cho chị Bích và Thiên Lương biết bao sự chăm sóc và tình thương yêu vô bờ bến, những điều thiêng liêng ấy còn nguyên vẹn trong trái tim của mỗi người. Anh đi rồi chúng em thấy thật bơ vơ… Rồi mai đây khi một người nào đó trong gia đình ngã bệnh, biết dựa vào ai để có thêm sức mạnh tinh thần? Anh đã là trụ cột cho gia đình ta trong suốt mấy mươi năm. Cũng may mà gia đình mình không có cảnh lá xanh rụng trước lá vàng, dù sao thì anh cũng đã làm tròn trách nhiệm đối với mẹ cha. Con gái Thiên Lương dù đã trưởng thành nhưng rồi đây trên bước đường đời sẽ thiếu vắng tình cảm và sự nương tựa về tinh thần, bởi anh là người cha quá tuyệt vời trong lòng con. Niềm tiếc thương và nỗi đau vì mất anh là quá lớn, cho dù tất cả đều hiểu rằng đấy là phúc phần cho riêng anh, được trả nghiệp, thoát nghiệp sớm. Cầu chúc cho anh sau khi đã cởi bỏ thân xác hư hao tạm bợ  này sẽ được về với cõi Niết bàn, nơi mà anh khi sống đã tìm hiểu cặn kẽ, và nếu có tái sinh thì anh cũng được đến nơi xứng đáng với những gì anh đã tạo dựng được trong kiếp này. Những nguyện ước của anh, chúng em sẽ thực hiện đầy đủ, thân xác này sẽ được trả về với cát bụi, đại dương sẽ đón hài cốt anh vào lòng – như mẹ đã hoài thai anh 62 năm về trước . Cuộc đời sinh tử, hợp tan là lẽ vô thường, nhưng trong lòng mọi người mãi mãi còn lưu lại hình bóng và tình cảm của anh – BS Phạm Doãn Luyện.

 

Có con chim nhỏ về thưa

Anh quay gót lại ngõ xưa Mẹ chờ

Ngõ xưa Mẹ vẫn ngồi chờ

Dang tay Mẹ đón con thơ trở về

NHẬT KÝ NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA BÁC SĨ PHẠM DOÃN LUYỆN

“Rồi ngày mai ấy em đi dạo

Sẽ thấy hồn ta trên cỏ xanh…”

 

Đã bao lâu rồi, có lẽ khoảng 6-7 năm nay anh tôi không còn làm thơ hay viết tùy bút nữa, từ năm 2008 anh đã close hết tất cả những bài viết có tính chất tình cảm, thay vào đó là những nghiên cứu chuyên đề về Phật giáo, tư tưởng, thần học và các topic khoa học. Bất chợt một ngày mùa hạ, tháng 05/2014, tôi nhận được lời comment của anh trên trang FB của tôi là 2 câu thơ trên, có lẽ chỉ đơn giản là vì bức ảnh tôi chụp bãi cỏ xanh lác đác những xác lá nâu khô đã gợi cho anh một sự liên tưởng… Tôi không biết anh đã làm 2 câu thơ ấy từ khi nào, nhưng tôi thật sự ngạc nhiên, vì đã lâu lắm rồi tôi không thấy anh làm thơ nữa, và hầu như anh tôi không bao giờ comment những chủ đề có chất romantic. Và trong 1 các entry từ giã bạn bè FB, anh đã post 2 câu thơ này, rất dung dị mà đầm đẫm nỗi buồn…

 

Cách đây đúng 2 tuần, tôi đến thăm anh, sửng sốt trước đôi mắt và nước da màu nghệ, bụng anh to một cách khác thường. Khi ấy anh vẫn tiếp tục khám bệnh ở phòng mạch tại nhà. Liên tiếp những ngày sau, đều đặn tôi qua thăm anh, anh vẫn nói một cách hăng say về các vấn đề tôn giáo và mặt trái của  những tiến bộ y học hiện nay. Anh bảo với chúng tôi rằng “Hiện nay trên thế giới đã xuất hiện 1 vị đại sư với năng lực phi thường, đó chính là Ngài Google”. Anh nói và cười hề hề một cách tếu táo như anh vẫn thường như vậy. Sau đó, khi  có mặt đầy đủ, chúng tôi trao đổi với anh một cách nghiêm túc và cụ thể về ý nguyện của anh nếu chẳng may anh không qua khỏi lần này, đấy là tang lễ sẽ không mời Sư đọc kinh, không hộ niệm, chỉ cần cho anh nghe các em  hát, nghe nhạc vào đêm cuối cùng giống như đám tang của bố tôi là đủ, và hài cốt của anh sau khi hỏa thiêu sẽ được rải vào lòng đại dương…Còn nếu như anh may mắn bình phục thì sẽ đưa anh lên một nơi thật cao, có không khí trong lành để anh dưỡng sức và thực hiện những công việc còn dang dở.  Ngay lúc ấy tôi đã linh cảm rất xấu. Cầm trên tay lá số Tử vi của anh, của con gái Thiên Lương và của chính minh, tôi đoán đến 90% là anh sẽ ra đi trong tháng 9 âm lịch này và ngày 30/10 DL sẽ là ngày xấu nhất ! Có thể nói tôi đã bàng hoàng đến run rẩy khi tất cả các hướng luận đoán kết hợp đều cho ra lời giải tệ hại nhất ! Tôi đã thông báo cho gia đình mình về cái ngày 30/10 tức 7/9 AL rất đáng sợ này. Và ngay cả giờ xấu nhất trong ngày tôi cũng đã đoán trước. Như vậy chắc rằng đó là “lập trình” của phần mềm cuộc đời, không thể sửa được, như anh đã thường xuyên nói với tôi như vậy nhiều năm về trước! Xưa kia, anh tôi cũng đã từng nghiên cứu sâu sắc bộ môn Kinh Dịch và Tử vi, cũng từ đấy mà tôi đã ảnh hưởng bởi anh trai mình. Tôi nhận ra mình đã đi dưới cái bóng của anh suốt thời thơ ấu cho đến lúc trưởng thành. Hơn 2/3 tư tưởng, sở thích của tôi là rập khuôn theo anh, 1/3 còn lại tôi không theo anh được vì không có đủ năng lực và trí tuệ như anh.

 

Tôi đến thăm anh lần đầu tiên khi nghe báo anh bệnh nặng là ngày thứ sáu 17/10. Sáng Chủ nhật có khá nhiều bạn hữu đến thăm, anh vẫn ngồi tiếp chuyện và nói hăng say. Tối đó anh mệt nhiều, hàm và các ngón tay có dấu hiệu co cứng. Sáng thứ ba chúng tôi đến khá đông đủ Chí, Hà, Hồng, Luân, và cũng trong buổi sáng hôm ấy chúng tôi hỏi ước nguyện của anh nếu như anh qua đời. Buổi trưa con rể Khoa chở anh đi làm xét nghiệm máu và siêu âm, nhìn dáng anh đi liêu xiêu, bước lên xe một cách khó khăn, tôi chạnh lòng… Trưa hôm đó anh mệt lả và không còn nói chuyện được nữa, anh cho các con treo bảng tạm nghỉ Phòng mạch. Ngày thứ tư  22/10 có kết quả thử máu, số virus gan B quá cao, tuy nhiên anh lại ăn uống có vẻ tốt hơn mấy hôm trước.  Hôm ấy thùng sữa đặc biệt giành cho bệnh nhân gan có giá gần 8 triệu VND được chị Hà order từ Mỹ về đến nhà anh, mỗi tuần lễ chỉ được dùng 2 gói, và anh bắt đầu uống sáng hôm đó.

 

Trong 2 ngày 22 và 23/10 bụng anh chướng to hơn và các cơn đau cơ bắt đầu xuất hiện nhiều hơn. Sáng thứ sáu 24/10 chúng tôi đưa anh đi khám tại Viện Gan của BS. Đỗ Đại Hải là một đồng môn của anh. Khi về nhà anh gần như kiệt sức, nằm thiêm thiếp, mọi người phải massage cho anh liên tục ở phần lưng. Từ Viện Gan của Bs. Hải trở về, Thiên Lương mất tinh thần thấy rõ, cháu gọi điện thoại cho cô Vân ở California trong tiếng nức nở. Khi ấy tôi ý thức rằng anh chỉ còn không đến 5% cơ hội sống, nếu có thì điều đó chỉ có nghĩa là sự mầu nhiệm mà thôi. Anh kiểm tra tất cả toa thuốc của Bs. Hải và nói “Trước giờ anh chưa hề diệt 1 con virus nào cả. Đây là bọn ở trọ trong cơ thể anh mà bây giờ chúng nó quậy phá quá. Lần này ông Hải dội bom tụi nó !”. Chúng tôi bắt đầu truyền Albumin cho anh dưới sự hướng dẫn của anh, chuẩn bị sẵn thuốc chống shock. Anh ngủ không yên vì đau, có lúc complain “Cả nhà chẳng đứa nào biết massage ra trò…!”. Chúng tôi điện thoại cho Sơn, thằng em cận út, sang đấm bóp cho anh. Anh có vẻ hài lòng. Mệt, đuối sức lắm nhưng anh vẫn lâu lâu thò tay tự điều chỉnh mức độ truyền dịch, giống như anh đang chăm sóc cho bệnh nhân của mình, và anh yêu cầu đi mua cho anh chiếc xe lăn vì anh cảm thấy không thể tự di chuyển được nữa. Xế chiều, BS. Thông gọi điện thuyết phục anh nhập viện BV. Đại học Y Dược.  Khuya hôm ấy chúng tôi phải cắt thêm người ngủ lại với anh. 12 giờ khuya anh thức dậy và tự mình xuống bếp đun nước pha cà phê!

 

Sáng ngày thứ bảy 25/10 anh có vẻ tỉnh táo và khỏe hơn. Gia đình 6 người đưa anh vào viện. Đó là lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng anh ngồi trên xe lăn để di chuyển trong bệnh viện. Suốt ngày thứ bảy và CN anh tuy mệt nhiều nhưng không có dấu hiệu quá tệ, đặc biệt anh rất ít ngủ, ăn càng ngày càng kém… Chiều ngày CN có bạn hữu vào thăm, anh trao đổi khá nhiều và cười thật tươi. Thật sự ít có ai nghĩ rằng anh đang bệnh rất nặng trừ những người trong gia đình và các bác sĩ điều trị. Tối hôm đó anh đột nhiên bị lạnh và đến khuya thì khó thở gần như ngất xỉu. 23h30 ngày CN 26/10 tôi nhận điện thoại của cháu Thiên Lương từ BV… tôi thật sự hoảng hốt đến mức mất bình tĩnh, khóc nức nở trên ĐT gọi cho anh em, bạn bè, những người mà tôi tin rằng có năng lực trong việc cầu nguyện. Lúc ấy tôi chỉ biết cầu nguyện sao cho anh đừng ra đi trong đêm, khi bên cạnh chỉ có 1 đứa con gái yếu đuối… Cuối cùng thì anh cũng được bình an qua hết đêm nhưng đã phải thở oxy. Theo lịch điều trị, sáng hôm sau tức thứ hai 27/10 anh sẽ được nội soi thực quản và làm các xét nghiệm, siêu âm cần thiết. Thấy anh yếu nhiều, tôi hỏi “Anh Luyện có chịu nổi nội soi không?”, anh gật đầu Ok. Nhưng phải nói rằng anh gần như bất tỉnh lúc nội soi vì đau đớn. Khi trở về phòng, anh nói thật nhỏ nhưng rõ ràng “ Không ai có thể vừa hít lại vừa le, hay vừa phùng lại vừa há. Ngáng họng không cho ngậm lại mà yêu cầu người ta nuốt, thật là dốt và vô lý! Phải cho 1 thằng nằm xuống rồi thằng kia nhét vào thì tụi nó mới hiểu được bệnh nhân phải chịu đựng như thế nào”. Chúng tôi cười trước sự hài hước mà rất thật của anh. Bây giờ ngồi đây viết lại những dòng này, tôi hy vọng có không ít người trong ngành Y đọc thấy và thông cảm. Bản thân tôi đã tìm hiểu và biết rằng ở bên Mỹ và các nước tiến bộ khác khi tiến hành nội soi thì bệnh nhân được gây mê. Riêng ở VN, có lẽ do phẩm chất “dũng cảm từ ngàn xưa của nhân dân ta” nên ngành Y không nghiên cứu việc gây mê trong quá trình nội soi.

 

Trưa ngày thứ hai 27/10 Giáo sư BS Lê Minh đến thăm nhưng anh vào toilet quá lâu, BS. Lê Minh chậc lưỡi, hiện tượng đi vệ sinh một cách khó khăn như thế này cũng đáng lo ngại. Lúc ấy anh vẫn có thể tự kiểm soát và không cần sự giúp đỡ của chúng tôi. Chờ anh không được, BS. LM phải đi vì đến giờ giảng. Anh trở về giường mệt lả. Đêm hôm đó kíp điều trị cho thực hiện rất nhiều các xét nghiệm cấp tốc và tăng cường thuốc đặc trị

Trong 2 ngày thứ hai và thứ ba, cân lượng anh tiếp tục tăng do anh không thải nước ra khỏi cơ thể được. Do có dấu hiệu nhiễm trùng nên anh phải truyền kháng sinh ổ bụng và tăng cường Albumin lên 2 chai/ngày.  Anh kêu mệt tim, trống ngực mạnh, và có BS từ khoa Tim mạch sang thăm khám. Lúc này các cơn đau cấp tập hơn và chúng tôi không ngừng xoa bóp cho anh toàn thân. Hầu như lúc nào cũng có 4 người chăm sóc.Anh không ăn uống gì được nữa, chỉ có dùng sữa đặc biệt mà thôi. Tuy nhiên anh vẫn tự di chuyển vào toilet, chỉ cần người dìu, không cần xe lăn, và có thể ngồi ghế trong vòng 5-10 phút.

 

Sáng ngày thứ tư 29/10 tôi được báo anh bị xuất huyết nhãn cầu, chân răng và khạc ra máu. Linh tính rằng anh gặp chuyện chẳng lành, tôi hộc tốc vào BV. Trông anh thật thảm thương với đôi mắt 2 màu vàng và đỏ ! BS quyết định truyền huyết tương cho anh. GS. Lê Minh vào thăm, khám và nghe mạch cho anh, rất ân cần và trìu mến. Tôi nhận ra sự xúc động và lo lắng trong ánh nhìn của anh Lê Minh. Tôi ở BV đến khoảng 13g, lúc ấy anh vẫn tỉnh táo, nói chuyện được bình thường dù khá yếu. Cùng lúc đó BS. Thông vào thăm, trấn an chúng tôi, rằng anh vẫn có hy vọng điều trị có kết quả.  Khoảng hơn 6g chiều anh đi tiêu tại chỗ, rất nhiều, và bị tuột oxy, bất tỉnh phải cấp cứu. Trước lúc chuyển vào Phòng Hồi sức Cấp cứu anh còn bảo bóp lưng cho anh và hoàn toàn tỉnh táo. Trên đường vào Phòng Hồi sức, chị Hà niệm kinh A Di Đà, anh khoát tay bảo “chưa đến lúc!”. 20g cả gia đình 14 người có mặt tại phòng đợi trước cửa Phòng HSCC nhưng được yêu cầu ra về. Kể từ lúc ấy anh bị cách ly với người thân, và chúng tôi vẫn hy vọng rằng anh được chăm sóc một cách tốt nhất, chuyên nghiệp nhất. Mọi người ra về sau khi gởi vào cho anh tả giấy và khăn ướt, cũng như để lại 2 số ĐT liên hệ. Đêm hôm ấy cả gia đình thao thức vì lo lắng. Riêng tôi vẫn bị ám ảnh bởi ngày 30/10 DL là ngày rất xấu đối với anh.

 

Sáng sớm 6g ngày thứ năm 30/10/2014 vợ, con gái, và em trai út vào thăm anh, lúc này anh đang được đặt ống dẫn dịch từ bao tử vì đã bị xuất huyết bao tử. Anh nói với em trai “Cơ bản là đau cái lưng!” và nói với con gái đưa anh ra khỏi Phòng HSCC trờ về phòng ngoài. Nhưng yêu cầu của anh không được chấp thuận vì lý do SK của anh.

 

07g, sau khi mọi người vừa ra về thì BV báo cho người nhà trở lại hội ý, họ thông báo anh bị suy hô hấp nặng và đề xuất đặt ống thở cho anh, nếu đồng ý thì người nhà ký tên chấp thuận. Chúng tôi hội ý với nhau, đồng thời hỏi ý kiến của chính anh, tất cả đều “say No”. Khi vừa nhìn thấy con gái, anh chụp lấy bàn tay con một cách vội vã và mừng rỡ, anh nói “Đi về!”. Ánh mắt của anh đã thể hiện sự cô đơn trong đau đớn và tuyệt vọng của anh như thế nào trong suốt một đêm tại Phòng hồi sức …Thế là chúng tôi đã hiểu và chấp nhận sự chia tay đau xót với người mà chúng tôi yêu thương. Từ 7g sáng chúng tôi phải chờ Bác sĩ đến 9.30g để được ký y lệnh cho xuất viện. Tôi tự hỏi, tại sao Phòng HSCC mà lại phải chờ đợi  bác sĩ như vậy? Thế rồi cuối cùng BS cũng đến, Ok vấn đề xuất viện, nhưng chúng tôi lại phải chờ đợi thủ tục xuất viện. Thủ tục này chẳng qua là việc tính  toán viện phí mà thôi. Tôi thật sự không hiểu nổi tại cái BV hiện đại nhất Sài gòn này phần mềm quản lý được cài đặt thế nào mà để bệnh nhân sắp chết phải chờ đợi đến gần 2 tiếng đồng hồ mới ra được cái hóa đơn viện phí. Chúng tôi là những người khỏe mạnh mà còn đuối sức và thiếu kiên nhẫn khi phải chờ đợi, huống chi anh tôi đang ngáp không nổi, sự sống chỉ còn tính bằng giây và đang mong chờ gặp mặt người thân lần cuối. Một điều rất ư buồn cười (cười trong nước mắt) là hóa đơn còn tính thừa 2 chai Albumin trị giá gần 2 triệu!!! Nếu không kiểm tra lại cả 4-5 trang bảng kê dài dằng dặc đó thì không biết khoản chênh lệch này sẽ đi về đâu…? Cháu tôi xuống đóng viện phí, xếp hàng dài rồng rắn… 15 phút trôi qua, cuối cùng BV đồng ý cho anh tôi xuất viện trước khi đóng tiền. Có lẽ đó là “nghĩa cử” giành cho “người nhà bác sĩ” chăng?

 

Khoảng 11.45 anh được đẩy từ Phòng HSCC ra, chúng tôi 3 đứa –tôi, em trai út và con gái anh, đón lấy anh như đón lấy một ân huệ cuối cùng mà cuộc sống giành cho anh em chúng tôi. Mặt anh đã chuyển sang màu nâu tím và khô quắt lại, 2 chân đã chết từ đầu gối trở xuống, lạnh ngắt và xanh như tàu lá. Vừa nhìn thấy chúng tôi anh giật phăng tất cả các dây nhợ ràng rịt trên miệng, nhân viên BV cản lại nhưng chúng tôi quyết định làm theo anh, chúng tôi hiểu anh muốn nói. Anh nói bằng giọng thều thào và méo lệch “Hôn ba đi.. Hôn anh đi..!!!”. Cả 3 đứa nhào đến anh trong tiếng gào khóc thất thanh. Tôi đặt môi mình trên đôi má lạnh ngắt của anh. Trái tim tôi như có mũi dao lách vào thật sâu. Tôi ý thức rằng cái giờ phút đang sợ ấy đã sắp đến. Trên thang máy tôi nói vào tai anh lắp bắp …“Bác sĩ Luyện, bác sĩ Luyện, anh can đảm lắm mà, anh luôn luôn can đảm mà, cố lên anh, mình sắp về đến nhà rồi…”. Tôi sợ anh không thể giữ nổi hơi thở để về trong vòng tay của người thân. Tôi hoảng loạn gọi DT cho người nhà, dặn tất cả hãy có mặt vì anh suy kiệt lắm rồi. Mạng sống của anh đang treo trên đầu sợi tóc!  Trên xe Ambulance  họ phải bóp bóng để giữ hơi thở cho anh. Thế nhưng anh vẫn còn đủ sức dùng tay rút hết sợi dây dẫn dịch và máu  từ mũi ra. Tôi khóc ngất sờ bàn chân anh, sự sống chỉ còn ở phần trên bụng.

 

Xe về đến nhà 12 giờ trưa. Mọi người vội vã đưa anh vào đặt anh nằm trên chiếc giường  vẫn dùng cho bệnh nhân của anh. Cả nhà gần 10 con người nhào đến ôm anh, anh còn ra dấu cho biết hãy dang ra cho anh thở. Người của BV định đặt oxy trở lại nhưng anh dứt khoát từ chối. Thế rồi anh bảo đỡ anh ngồi dậy. Tôi thấy anh thật vững vàng,  dõng dạc ra lệnh “bảo người ngoài bước ra hết, chỉ người nhà thôi!”, một hai người của BV vẫn còn chưa kịp bước ra, anh nói “Vẫn còn người lạ, bảo tụi nó đi ra”. Rồi anh nói 1 cách rất khó khăn nhưng cũng rất rõ ràng “….là một cái tổ quỷ, vào rồi không có ai ra được!”. (Vì lý do tế nhị, tôi không thể viết đầy đủ câu nói của anh, tất cả mọi người thân máu mủ của anh đều nghe câu nói này, và như thế chúng tôi đã hiểu ra rằng anh mình bị đối xử như thế nào ở cái nơi được gọi là hồi sức hay chăm sóc đặc biệt của BV). Sau đó anh chỉ tay lên trời “Bây giờ anh đi đây!”. Cả gia đình gào khóc thê thảm. Tôi nắm tay vợ anh kéo đến sát bên cạnh anh, anh đưa bàn tay vuốt tóc vợ, cài sâu những ngón tay vào mái tóc chị, anh xoa đầu con gái, nắm tay từng đứa em một. Thằng con rể đóng tiền cho BV vừa kịp chạy về bên anh, anh đưa tay vuốt má đứa con rể đầy thương yêu. Thằng bé cháu nội trai duy nhất của gia đình tôi chạy vào hôn lên má anh, anh gật đầu trong giọng nói nức nở của thằng em út, thằng em mà anh đã đỡ nó lọt ra từ lòng mẹ lúc anh còn là SV Y 3 đang thực tập tại BV Từ Dũ, “anh Luyện, em sẽ cho thằng Bush học Bác sĩ như anh”. Tôi thấy tai mình như ù đi bởi tiếng khóc của Thiên Lương “Ba ơi, con thương ba nhất trên đời, ba ơi…!”. Đột nhiên anh cất tiếng thật lớn “Om…Om…”. Tôi nhìn vào kẽ răng anh đỏ lòm màu máu, đôi môi khô nứt đang cố gắng hé ra… Tất cả chúng tôi đều đọc “Om” theo anh, cả nhà như  vọng vang lên tiếng chuông chùa. Có lẽ một năng lực siêu nhiên nào đó đang nương theo âm thanh của mật ngữ “AUM” này mà đến với anh. Đôi mắt anh vẫn mở nhưng khuôn mặt đang từ từ biến dạng, anh gồng mình, vặn vẹo… cố phát ra tiếng OM một cách khó khăn. Đôi mắt bắt đầu trợn ngược là lúc anh không còn nói được nữa, hai đồng tử di chuyển thành vòng tròn như đảo khắp xung quanh, rồi dừng lại, nở tròn… Tôi nghĩ anh đã ra đi nên nói Thiên Lương vuốt mắt cho anh. Bất ngờ anh lại phát ra một lần cuối cùng tiếng “OM !”, máu và chất nhờn trong cổ họng tống ra một lần chót, lưỡi anh đẩy ra ngoài. Khoảng gần 10 giây sau thì mạch hoàn toàn ngưng đập. Đồng hồ chỉ 12h22p. Vậy là anh chính thức ra đi sau khoảng 7 phút niệm chú và sau 7 giây thốt lên tiếng “AUM” cuối cùng. Chúng tôi tiếp tục niệm AUM. Một vài người trong gia đình niệm A Di Đà. Trong nỗi đau khôn xiết, tất cả chúng tôi cúi đầu ngưỡng mộ trước sự bản lĩnh đến hơi thở cuối cùng của người anh, người cha, người chồng tuyệt vời của gia đình Phạm Doãn. Tôi nghe có tiếng khóc cất lên “Anh Luyện là người anh tuyệt vời, kiếp sau xin cho em được làm em của anh Luyện lần nữa!”…

 

Thế là anh đã thực sự rời bỏ chúng tôi vào giờ Canh Ngọ, ngày Giáp Tuất, tháng Giáp Tuất, năm Giáp Ngọ.

 

Tháng 10 mùa thu nhưng Sài gòn trời đầy nắng. Nắng như thêu lên cuộc đời anh sợi chỉ vàng huyền nhiệm. Nắng như nét bút tài hoa đầy trí lực và bản lĩnh mà anh muốn vẽ vào cuộc sống này. Nhưng em biết rằng anh thực sự vẫn còn tiếc nuối vì chưa hoàn thành bức tranh ấy. Bánh xe của sự sống đã dừng lại để anh được chuyển nghiệp, thay đổi thân xác hư hao này như anh đã từng lập đi lập lại trong những ngày cuối đời “Anh muốn thay chiếc áo mới, khỏe mạnh hơn, tốt đẹp hơn”. Có lẽ năng lực siêu nhiên nào đấy đã nhanh chóng trao cho anh một nhiệm vụ mới, trọng trách mới. Tất cả những gì mà anh làm được, em tin rằng vẫn còn nguyên vẹn trong thần thức, được lưu giữ lại dưới dạng những data và được copy sang một cơ thể sống khác, kế tục những gì anh đang còn dang dở hôm nay.

 

Ngày tiễn anh đi hỏa táng, thành phố này cũng vẫn rực rỡ nắng vàng. Sáng hôm ấy trời rất đẹp. Chúng tôi ngồi trên xe tang cùng với linh cữu anh kính yêu, rải xuống lòng phố những đóa hoa lan trắng tím, như lời chia tay của anh với nơi anh đã trưởng thành và sinh sống. Những cánh hoa nhẹ bay trong nắng, khép lại những hẹn hò với đời trần tục, từ giã một kiếp nhân sinh. Tôi thì thầm với anh

“Rằng thôi một kiếp sa mưa

Lìa thân huyễn tượng hoa đưa cuối trời”

Đây là 2 câu thơ em viết cho chính em, nhưng thôi anh đi trước thì em giành tặng cho anh vậy!

Rồi ngày nào đó, mỗi khi dạo bước trên một vạt cỏ xanh, em lại nhìn thấy nụ cười của anh Luyện, cho dù lúc ấy một giọt nước mắt thật ấm có tràn qua mi thì em vẫn nhận ra lòng mình thanh thản, bởi em tin rằng anh Luyện đã đến được nơi mà anh mong muốn!

 

ANH TÔI

Những ngày này hồi ức tuổi thơ bỗng cuồn cuộn trở về… Có hình ảnh một bé gái 5 tuổi, ngúng nguẩy không chịu nhận bình sữa đã tháo bỏ núm vú từ ông anh 18 tuổi (vì đây là sữa thừa của em bé 2 tuổi!). Có hình ảnh cô bé mắt to thích thú được anh bồng trên tay vì bỗng thấy mình ở trên cao… Có hình ảnh cô em gầy nhom vui mừng ngồi sau chiếc Suzuki … và chiếc xe đạp mini Victoria anh chở ra Bưu điện Sài gòn ngắm thành phố những ngày giáp Tết…Và nữa, có lần cô bé bị kẹp tay trong chiếc cổng sắt anh phải dùng đồ nghề tháo thanh sắt ra, cô bé bị đau bụng anh chữa bằng cách mua cho tô phở, ăn vào hết đau ngay…Ôi biết bao nhiêu kỷ niệm, nhưng có lẽ nhớ nhất vẫn là những buổi chiều anh dạy cô bé học tiếng Anh và chơi cờ tướng, khi ấy em mới lên 10…

Đã từ lâu tôi muốn viết về Anh. Đấy là người anh Cả trong 7 anh chị em chúng tôi, và là thần tượng của 6 đứa em, là niềm hy vọng và tự hào của cha mẹ tôi từ những ngày xa xưa ấy. Anh vẫn kể rằng, lúc còn chưa biết đi tôi rất “mềm”không được cứng cáp, nên khi “bồng em” rất sợ làm em ngã. Anh hơn tôi 13 tuổi, và cái khoảng cách ấy cùng sự hiểu biết đặc biệt hơn người của anh, đủ để tôi luôn đi dưới cái bóng của anh về tất cả mọi điều trong cuộc sống, từ tư tưởng nhận thức đến mỹ cảm nghệ thuật hay các cách giải trí tiêu khiển… Đến bây giờ tôi chợt nhận ra, anh đã ảnh hưởng đến tôi rất nhiều, và ký ức tuổi thơ tôi ngập tràn hình bóng của anh tôi!

Vài ngày nay anh không được khỏe, căn bệnh mãn tính sau 13 năm lại tái phát, và mọi người sẽ không ai có thể nói trước được điều gì. Sự bất ngờ không mong đợi sẽ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nằm trên giường bệnh, anh thản nhiên phân tích về diễn biến bệnh trạng của mình cho chúng tôi nghe, hệt như Bác sĩ đang giải thích với người nhà bệnh nhân. Tôi quay mặt đi giấu một giọt nước mắt tràn qua mi. Và trở lại lặng yên nghe anh nói về những trăn trở của chính anh về thời mạt pháp của Phật giáo. Có lẽ đấy là điều mà suốt hơn một nửa cuộc đời anh tận tụy nghiên cứu, chắt lọc và ghi chép lại trong những trang blog của mình.

Dù bệnh rất nặng, nhưng anh luôn tạo cho mọi người sự yên an, nghĩa là cho dù bất cứ tình huống nào xảy ra thì chúng tôi vẫn chấp nhận đó là điều tốt đẹp mà anh sẽ đạt được sau những gì mà anh đã giác ngộ về chân lý của cuộc đời qua sự thấu hiểu về Phật Pháp. Sở nguyện của anh lúc cuối đời là được sống với cỏ cây, thiên nhiên, mây trời gió núi…, nơi chỉ có âm thanh là tiếng chim ríu rít mỗi buổi mai lên và tiếng côn trùng nỉ non lúc đêm vắng, nơi có ánh sáng chan hòa của vầng thái dương và dòng suối trăng đầm đẫm mỗi ban khuya, nơi có tiết trời luôn dịu lạnh đủ để cơ thể không phải tiết từng giọt mồ hôi. Ở nơi đấy, anh có thể hoàn tất được công trình tu tập để bước sang một thế giới khác không có khổ đau và sân hận. Chúng tôi hiểu điều đó và luôn cầu nguyện cho anh có đủ thời gian để thực hiện sở nguyện này.

Anh tôi, đầu con tàu dẫn dắt 6 anh chị em chúng tôi đi qua những chặng đường đầy sóng gió và trắc trở, là một Bác sĩ Tây y, được đào tạo bởi những kiến thức của văn minh phương Tây, nhưng anh luôn nhìn cuộc đời dưới góc độ sâu sắc của con mắt Triết học Phật giáo, và hướng dẫn chúng tôi sống theo quan điểm ấy. Có lẽ vì vậy mà chúng tôi được bình an hơn ngay khi ở vào tâm con bão lớn của cuộc đời. Những truyền đạt của anh từ những ngày xa lắc, lúc còn bé thơ, đã thấm vào tim óc và tâm hồn tôi như được viết vào tờ giấy trắng. Tĩnh lại, tôi nhận ra hầu hết tất cả những cái mà tôi hiểu biết, những điều mà mọi người xung quanh vẫn khen ngợi tôi, đều là do tôi học từ anh. Tôi yêu thích Triết học Phật giáo là từ anh, yêu văn chương nghệ thuật, âm nhạc cũng từ anh, biết quan tâm đến chính trị xã hội, kiến thức sinh học là do anh, kể cả đến với công nghệ thông tin media cũng nhờ ở anh chỉ bảo. Cũng vì tôi có một người anh trai uyên bác tuyệt vời và giàu tình thương như thế cho nên tôi rất khó để mà tìm thấy tình yêu đi kèm với sự ngưỡng mộ ở một người đàn ông khác trong cuộc đời của mình. Và đó cũng là lý do mà anh đã trở thành người anh đáng quý nhất của anh chị em tôi, là người Cha trên cả tuyệt vời của cháu tôi.

Điều lắng đọng trong tôi lúc này không phải chỉ vì anh tài giỏi, mà là hình ảnh yêu thương tận tụy của anh bên giường bệnh cha mẹ tôi. Cả cha và mẹ tôi đều đã lần lượt ra đi, trút hơi thở cuối cùng trên cánh tay của anh. Giờ đây nếu anh cũng bỏ chúng tôi mà đi thì chắc chắn đó là sự mất mát, hụt hẫng rất lớn…

Những ngày này, dù rất đau và yếu, nhưng anh vẫn cố gắng khám bệnh cho bệnh nhân tại Phòng mạch. Anh đã làm công việc cao quý của một Thầy thuốc bằng tấm lòng của từ mẫu với lời thề Hyppocrates không một chút vụ lợi vụ danh suốt mấy mươi năm qua. Nhìn anh còn có thể làm việc, dù cố gắng, chúng tôi thấy được bình yên, nhưng tôi biết niềm đau sẽ òa vỡ khi thân xác anh bị hư hỏng không thể sửa chữa được và anh sẽ trở thành một dạng “thức” tồn tại vĩnh viễn trong vũ trụ này…

Cầu mong thân xác vật chất này có thể phục hồi nay mai để anh có đủ thời gian và cơ hội thực hiện sở nguyện tu tập hành thiền ở một chốn thanh bình với màu xanh cây lá!

Tôi bỗng nghe đâu đó, từ quá khứ thật xa vọng về.. tiếng hò reo vui mừng “Anh Luyện về , anh Luyện về…!” của mấy anh em hòa với tiếng cười của mẹ tôi mỗi khi anh tôi trở về nhà sau nhiều tháng đi làm việc xa ở tận Rạch Giá miền Tây. Khi ấy nhà chúng tôi nghèo lắm!

TỈ LỆ NGHỊCH – Truyện cực ngắn

10 tuổi . Cô mơ thấy mình mọc cánh như chim sẻ, bay chấp chới đầy tự tin giữa nền trời, rồi rúc vào những tán lá xanh um đầy mộng mị. Ở lớp, cô luôn đứng nhất, mỗi tháng tự hào nhận 1 đồng tiền xu tròn trĩnh  gọi là quà thưởng khi đưa thông tín bạ về cho bố ký. Cũng chả khác cánh chim sẻ là mấy. Cô bay lượn cùng với giấc mơ của mình.

 

20 tuổi. Cô mơ thấy mình có quần áo đẹp, đạp xe tung tăng dạo chơi giữa phố đông người dưới trời gió lộng và bỏ lại sau lưng nhiều ánh mắt dõi theo. Cô may mắn tìm được một việc làm tốt, trong khi  bạn bè cô vẫn còn phải ăn bám gia đình, và vẫn tự hào như ngày xưa, mỗi tháng đem tiền lương về cho mẹ. Cũng gần giống như giấc mơ, mỗi chiều cuối tuần cô thảnh thơi đạp xe dạo khắp phố phường, dưới những vòm me, dưới những cơn mưa liêu xiêu, cùng với tình yêu xanh non tuổi đôi mươi.

 

30 tuổi. Cô mơ thấy mình ở trong một ngôi nhà nhỏ xinh, có tiếng trẻ con cười rúc rich cùng mâm cơm đầm ấm, người đàn ông trong ngôi nhà ấy siêng năng cần mẫn, anh tặng cho cô phong bì tiền lương tháng của anh . Công việc của cô tương đối ổn sau những thăng trầm, nhưng cô luôn mặc cảm thua kém bạn bè một tấm bằng Đại học. Cô không có nhà,  nhưng có một gia đình yên ấm và một bé trai xinh ngoan. Khác với giấc mơ, cô luôn phải tính toán và trang trải mọi thứ bằng chính đồng lương của mình.

 

40 tuổi. Cô mơ thấy mình đi xe hơi và làm việc trong căn phòng sang trọng, ký những hợp đồng thương mại có cỡ, và khi chiều về người đàn ông cùng lũ nhóc đón cô với những nụ cười. Cô cũng đã có một ngôi nhà tuy không lớn, cũng cố gắng tạo dựng một sự nghiệp nhưng dang dở, và đã không ít những buổi chiều cô cố nuốt ngược nước mắt vào trong để khi trở về nhà các con không nhìn thấy. Khác rất nhiều với giấc mơ, cô nhận ra mình chẳng có gì ngoài sự quẫy đạp và bươn chải một cách đơn độc trong chợ đời. Một phần niềm tin đã bị đánh mất. Chim sẻ ngày xưa không còn cất cao đôi cánh nữa mà đang giấu mình trốn mưa dưới mái nhà.

 

50 tuổi. Cô mơ thấy mình ngồi uống café giữa bình minh trong veo, có tiếng nhạc chơi vơi và tâm hồn cô bình lặng đến lạ kỳ. Cô đã đánh mất tất cả những gì ky cóp được trong suốt 30 năm, kể cả ngôi nhà và tình yêu thời son trẻ. Cô chỉ còn  lại những đứa con và một đôi tay xem ra thì vẫn  vẹn nguyên. Giấc mơ ngược hẳn với  thực tại, hằng ngày cô vẫn phải đánh vật với cuộc sống bằng một tâm thế rối bời đến mức khủng hoảng. Và cứ còn phải tranh đấu để tìm lại những gì cô đã làm mất của các con. Chim sẻ ngày xưa xếp đôi cánh lại, đứng yên nhìn đất trời chỉ để chiêm nghiệm mà thôi !

HAI NĂM NHÌN LẠI

Vậy mà đã gần 2 năm rồi đó. Hai năm chật chội giữa những lối hẹp tối bưng. May thay cũng còn có một bàn tay ấm áp, một bờ vai  thương yêu để  tựa vào đấy mà sống, mà bước qua những tháng ngày ngập ngụa nỗi buồn. Có lẽ đấy là  buổi sáng định mệnh khi một dấu môi nào đã tình cờ bỏ quên trên cổ áo, có những sợi nắng xiên xiên làm chứng, và trở thành kỷ niệm cất vào lòng khơi xa. Để mọi điều sau đấy cứ tiếp nối nhau như sóng…

Hai năm thoảng qua như một giấc mơ. Giấc mơ có đủ hình thù – kỳ dị – lung linh, như quyển vở đứa trẻ nghuệch ngoạc vào đấy những vòng tròn xanh tím đỏ một cách vô tư. Những nét bút đủ màu đan vào nhau như ngày như tháng, như thời gian  kéo mình trôi tuột đi trong rối rắm, có khi hoảng loạn, có khi trơ như đá, và cũng thật nhiều khi bềnh bồng như mây… Cảm ơn những khối mây thật trắng đứa bé đã hồn nhiên vẽ vào giữa lòng trang vở, nếu không mình đã thôi không còn vào ra với nhân gian.

Đã sắp tròn 2 năm rồi ta  bước cùng nhau một đoạn đời. Không hoa thơm cỏ lạ, chỉ rặt một lũ xương rồng đầy gai, nhưng đâu đó vẫn thoang thoảng một mùi hương, của lòng nhân ái và độ lượng, vẫn dịu dàng bàn tay nắm lấy một bàn tay. Hai năm đi qua trong cay đắng chảy thành dòng, nếu không có ngày hôm ấy để bấu víu, nếu không có những ân cần theo ta đi suốt những chặng nghịch oan, chắc giờ đã  hóa một tâm hồn rêu rữa.

Ngoài kia trời lộng gió, nhắc nhở rằng mình vẫn còn ít nhất một khoảng bình yên. Thế thôi cũng hơn biết bao thân xác thiếu khí trời, biết bao tâm hồn cô đơn quạnh vắng. Ngoài kia, thăm thẳm một trời sao… những vì sao xếp thành  chuỗi kỷ niệm, những vì sao gợi nhớ một ân tình đã theo ta suốt  đoạn đời nghiệt ngã!

 

THÁNG 3 CÓ SINH NHẬT ANH

Tháng 3 có sinh nhật Anh. Tháng 3 nồng thơm hương hoa trái . Tháng 3 rừng rực nắng trên sắc vàng biết mấy kiêu sa của những chùm hoa osaka đong đưa theo gió dọc đoạn đường em đi. Và tháng 3, đâu đó thi thoảng màu tím lãng mạn của hàng bằng lăng hiền hòa đầy mộng mơ trên những con phố mới.

 

Em bỗng nhớ tháng 3 mang hơi vị mặn mà khả ái của biển, và những sợi tóc xanh đan thành màu của trời, của nước, của gió, của cả thời gian. Nắng biển tháng 3 ngọt ngào mà sao hoang hoải quá. Tiếng sóng buồn buồn gờn gợn ngay trên làn da mình tạo một cảm giác cô đơn không diễn tả được. Và em thấy mình hoàn toàn trơ trọi đến hoang mang… Ngày của tháng 3 ấy không phải tự nhiên có, mà là từ duyên khởi, là một sắp đặt vô tình, để bây giờ cũng là tháng 3 cho em ngồi nghiền ngẫm mà nhớ lại, như xem một cuốn phim dĩ vãng có rất nhiều góc quay thật đẹp, mà cũng thật buồn!

 

Tháng 3 âm thầm đi qua rồi nhẹ nhàng trở lại. Tháng 3 năm xưa gói nỗi buồn và sự thất vọng cất vào một góc đời. Đôi môi tháng 3 chừ thì vẫn rực rỡ những mời gọi bởi tình yêu son trẻ. Trong ký ức nào đó, tháng 3 đã cởi bỏ chiếc áo nắng và gió để khoác vào cái lạnh da diết đến ngất ngây. Em nghe được từ tim mình từng tiếng chân bước đi trong cái đêm tháng 3 nuột nà đó. Bởi vì đêm không bị gián đoạn, không khúc khuỷu bởi giấc ngủ, mà đêm êm ả trôi qua…trôi qua trong một sự tưởng tượng thú vị về nhau. Có những giai điệu bay bổng như cơn say đã ra đời từ đêm tháng 3, phải không anh, những giai điệu ấy rồi sẽ theo em đi suốt cuộc đời!

 

Tháng 3 có sinh nhật anh. Tháng 3 hoa đỗ quyên bừng nở ngập tràn và dày đặc cả khu vườn nhỏ. Em nhớ đóa hoa đỗ quyên trắng nuốt như một thiên thần trong veo nằm giữa lòng bàn tay mình ngày nọ. Trí tưởng tượng cho em nghe được cả tiếng cười của những bụi đỗ quyên trong cái đêm đầy sao không thể nào quên ấy. Anh nhớ không – kỷ niệm còn xanh nguyên dưới từng bước anh đi mỗi ngày, trong những bãi cỏ non, rì rào trong từng khóm lá. Anh nhớ không – ngày tiễn em về bầu trời dường như thấp thoáng một cơn mưa!

 

Tháng 3 có sinh nhật anh. Em cảm ơn cuộc đời đã mang anh đến với em, dù chỉ là ở một góc rất riêng rất lặng thầm, và cho dù đã khá muộn màng!

 

THÁNG 3 VÀ NHỮNG KÝ ỨC MỀM

Em nhớ  đã từng viết cho anh rất nhiều những đoản khúc. Hết Xuân nồng nàn rồi đến Hạ rừng rực lửa trên cao. Từ Thu âm thầm ôm những cơn mưa, qua đến Đông xám buồn gầy rộc. Hết Giêng rồi lại tháng 3. Hết tháng 5 khô rốc  rồi lại sang tháng 6 mưa giông…kéo dài đến tận Chạp mong manh gió. Những đoản khúc ấy, dày đặc những khóm đỗ quyên và bàng bạc sương mây, và – có biết bao mùa trăng  rụng rơi trên những phím đàn. Ngần ấy điều, ngần ấy kỷ niệm, ngần ấy ký ức… chật hết tim em,  để nếu như có chết đi chắc cũng không đành bỏ lại !

Hôm nay đã lại bắt đầu một Tháng ba. Có lẽ tháng ba và những hạt mưa loáng thoáng ngỡ ngàng ngày đầu hạ đã để lại trong cuộc đời em một dấu tích, một hương xưa, có mùi vị âm ẩm mặn mà của biển khơi, ở đấy là cả một khoảng lặng giữa buổi trưa lồng lộng nắng gió xô nghiêng…

 

Em nhớ biển và giọng cười rộn ràng như sóng. Lẫn trong tiếng gió những hẹn hò từ tiền kiếp xa xưa. Em ngồi đấy, ru yên lành từng giấc mộng đã đi qua một thời và ở lại, phẳng phiu như bờ cát. Anh ngồi đấy, lặng im, phong sương, mỏm đá, dĩ vãng, và những đợt sóng cuốn trôi đi. Em không biết rồi còn lại những gì!

Em nhớ biển và ánh nhìn tràn trề như trăng già trên bãi khuya. Trăng nhẫn nại và chan hòa. Em lướt đi trên đầu những con sóng bất an, hỏi trăng về một thứ gọi là duyên và nghiệp. Có lẽ bản chất con người là trả nghiệp và tạo nghiệp, ấy là vòng nhân sinh. Em chợt nhận ra, trăng cũng già như em đã già đi giữa đời tục lụy.”

 

Những lời tự sự ấy như mãi xanh nguyên trên từng trang giấy  mới, theo em đi suốt một quãng đời. Tháng ba cùng những giấc mơ em – ngủ yên giữa mùa hạ không chỉ ậm ừ lời ru của sóng, mùa hạ lạ lùng lãng đãng hơi sương… Em nhớ, mùa hạ khoác vào Tháng ba chiếc áo trắng trong màu hoa đỗ quyên, hiền lành và ngây ngô.

 

 

Một ngày nọ, em nhớ, mình đi về phía ngôi vườn ấy, có cỏ hoa ngập lối, có những bình minh trong veo đậu trên từng phiến lá, và có cả những nụ dương cầm nở hoa dưới những ngón tay anh. Rồi một đêm-những vì sao lóng lánh trên nền trời và lung linh trong mắt em. Đỗ quyên trắng cười khúc khích ngoài hiên vắng. Đêm thinh lặng và đêm rộng thênh. Đêm thơm mùi hương tóc em. Đêm sóng sánh như màu rượu vang chảy tràn trên môi. Đỗ quyên trắng chợt khép nép mơ màng trong hương say. Và Đỗ quyên trắng chợt êm đềm rơi vào lòng bàn tay anh rộng mở, như những nốt nhạc tình rơi ngu ngơ trên những phím đàn. Em hiểu đấy là định mệnh. Có phải thế không anh? Và em thấy định mệnh hệt như một sợi tóc rối!”

 

Định mệnh không bao giờ nên có tên gọi, buồn hay vui. Em đứng bên này con dốc, anh đứng phía bên kia, mình đi ngang qua cuộc đời nhau, đấy là định mệnh, thế thôi. Chỉ biết một điều, đã có thật nhiều tiếng cười và cả những giọt nước mắt, nhưng tuyệt nhiên không có sự tổn thương trong nhau. Đấy là điều em muốn viết lại hôm nay. Cho  Tháng ba và  Tình yêu  đang bước song hành, dẫu rằng Tháng ba hôm nay đôi khi mang dáng dấp vô tình

 

Tháng ba. Có thật nhiều thứ để mà nhớ, để mà có thể mỉm cười một mình, và lạ hơn khi không thiếu những hạt mưa ấm nhỏ bay nhòa trong đáy mắt.

Tháng ba. Nơi góc vườn xưa yêu dấu ấy, mai này ai biết được, rằng ngày nọ đã có một chuyện tình trong mắt sao…

 

CHIỀU 30 – GIÁP NGỌ 2014

Chiều 30. Chiều óng ả và hiền từ trôi ngang khung cửa. Chiều thơm mùi khói hương từ bàn thờ vấn vương ngày cuối cùng của một năm đã hết. Và Nường thì nằm dài như con mèo cái lười với  cơn mê trưa chập chờn không đầu không đũa. Tay chân nặng như đeo chì. Bóng đè! Nường biết vậy, trí óc tỉnh rụi nhưng mọi cử động đều không thể, ngay cả hơi thở. Nường còn biết rõ bên ngoài khung cửa chiều xuân đẹp lắm kia!

Thoát ra khỏi giấc ngủ trưa muộn màng và những mộng mị lãng đãng tôi trở về với buổi chiều xuân muộn – muộn như con số 49 giành cho một người phụ nữ. Ừ thì chiều 30. Ừ thì mình đã không còn trẻ nữa. Ừ thì mình đã đánh mất biết bao nhiêu là thứ… Tôi nhẩm đếm những ngày còn lại, có thể không, đủ để tìm lại những thứ mình đã đánh mất kịp lúc trước khi giã từ mùa xuân và những chiều 30 như thế này?. Tôi sợ mình sẽ không còn cơ hội, không còn đủ thời gian và sức lực để làm tròn trách vụ ở đời cho những mái đầu còn xanh. Mùa xuân là những cột mốc, là những đánh dấu hay nhắc nhở con người về quỹ thời gian còn lại!

Bao giờ cũng vậy, hễ cứ đến những ngày giáp Tết là tôi lại thấy nhớ mẹ mình, nhớ không khí ấm cúng thương yêu trong căn nhà nhỏ và nghèo khó. Ngày ấy nhà tôi nghèo kinh khủng lắm. Những năm mới giải phóng, đến Tết mẹ không có tiền để mua nỗi mấy cành hoa cúc! Còn trước kia, lúc mà Mỹ Ngụy còn kềm kẹp miền Nam, nhà tôi mỗi khi tết đến đầy những gà vịt kêu ầm ỹ… Tôi thích tiếng gà gáy sáng của mấy chú gà mẹ mua về chuẩn bị cho ngày tết. Và dưa hấu những quả tròn thật to chất đầy dưới gầm tủ – bây giờ thằng bé nhà tôi nó bảo là “dưa hấu của người Tàu”, nghe thật buồn cười, vừa cười mà vừa buồn! Kỷ niệm bao giờ cũng đẹp, cũng ấm áp, cũng đầy ắp những thương yêu. Và thế, tôi thích sống với kỷ niệm nhiều hơn!

Buổi tối lên FB, thấy một anh bạn post hình ảnh về Dalat, thành phố của anh,chợt chạnh lòng với những gốc anh đào rực rỡ bên hồ. Tôi thấy nhớ nơi ấy, nhớ phố cao nguyên xinh đẹp với những con đường thơ mộng mình đã dạo qua biết bao lần. Dường như tôi có duyên với thành phố này từ lâu lắm rồi, ít nhất là đã 30 năm. Tôi bỗng ước gì mình có thể ở nơi đó vào một chiều xuân, thăm thẳm những sắc đào, để nghe lòng mênh mang… Ôi mùa xuân, nó mang lại cho con người thật nhiều cảm xúc !

Chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là Giao thừa, tôi mong một ngày mai, một năm mới thật an lành. Chỉ mong thế thôi không ước mơ gì hơn. Tôi thấy mình càng ngày càng trở nên khiêm tốn hơn ngay cả trong những ước vọng, có lẽ thế cũng tốt. Sáng mai khi thức dậy, tôi biết rõ mình sẽ phải làm gì và nên làm gì. Ngày mai là ngày Mùng 1 Tết !

CÕI CŨNG ĐàXƯA

Trở lại Thủy Trúc chiều thứ bảy cuối tuần. Nắng tháng Chạp như một dãi lụa mỏng vắt ngang những vạt cây. Tôi thương cái nắng rất duyên ở nơi đây mỗi chiều sớm, và luôn mang cảm xúc rất lạ khi ngắm buổi chiều từ từ rụng trên từng khóm lá xanh thẫm của ngôi vườn.

Anh có biết chiều nay em trở lại Thủy Trúc, như trở lại cái góc đời riêng thật nhỏ của mình. Đúng vậy, Thủy Trúc đúng là nơi hẹn hò của chính em và em. Không có ai  nơi đây trong buổi chiều hôm nay, bỗng dưng em hân hoan bởi điều đó. Chỉ có mình em và cỏ cây, và nắng, và bầu trời nhàn nhạt, và một chú ong bầu, và tiếng nhạc du dương nhè nhẹ, và một thứ nữa – đó là nỗi cô đơn. Em không cảm thấy nỗi buồn trong sự cô đơn, mà chỉ có niềm đau, khá cụ thể và cồm cộm trong tâm hồn. Em có cảm giác mình sờ soạng được niềm đau ấy bằng chính những ngón tay đang ngày một chai lỳ. Và em luôn tự hỏi những điều đang diễn ra quanh cuộc sống này, có phải, thật ra chỉ là “ảo tưởng”? Vì bởi sẽ chẳng có gì tồn tại, tất cả rồi sẽ đi qua…

Tôi bước từng bước chậm ngang qua mặt sân loang nắng và nghe tiếng gót giày của mình như vọng về từ những ngày quá khứ. Tất cả mọi thứ chiều nay đều thinh lặng trong tiếng thở của cây lá. Tôi thấy hai vai mình chợt nhẹ hẫng như vừa trút đi một nỗi nhớ nào đấy. Ồ không, là chia đôi nỗi nhớ thì đúng hơn. Có phải vì tôi đang trở về nơi chốn đã cất giữ những kỷ niệm? Góc vườn này, cây lá này, cội bồ đề và những khóm trúc, thi thoảng một tiếng chuông chùa ngân… tất cả như chứa đựng thanh âm của những ngày đã xa.

Tôi vẫn ngồi vào đúng cái vị trí ấy, nhìn nắng đi từ từ trên khoảng tường trắng trước mặt, và nhìn nắng nấp sau những thân trúc cong cong. Một ít gió cuối năm thoảng qua mang theo hương vị lành lạnh. Cô bạn ngoài bắc gọi điện vào, giọng nói run cầm cập vì cái rét 8 độ C , tôi chợt hỏi mình chiều nay chắc cũng có người đang lạnh… Tôi ngồi đây, với những giọt café rơi chầm chậm, nghe một dĩa nhạc thật xưa cách đây nửa thế kỷ, và rót cho mình một tách trà nóng thơm lừng. Buổi chiều chậm rãi, café chậm rãi, nhạc chậm rãi…và tôi cho phép mình uống trà cũng thật chậm rãi, rồi chậm rãi ngắm vết son môi mình in trên màu sứ trắng. Có lẽ đấy cũng là một kiểu dấu vết của thời gian.

Anh ạ, em sẽ ngồi nơi đây để chờ hoàng hôn đi qua, như dạo nào mình ngồi bên nhau ở cái góc xanh um cũ xưa này. Em không cần phải có một cuộc trò chuyện nào mà vẫn có thể trao đổi thật đủ đầy với thế giới mà chúng ta hằng ngày phải sống với nó. Em không cần một thân thể có hơi thở và bàn tay ấm, không cần ngay cả một giọng nói qua đường dây điện thoại, mà vẫn đối diện với tình yêu của mình. Có thể đấy là một thứ ảo giác không tốt lắm cho đời sống. Nhưng đôi khi em cần có điều ấy. Để trốn tránh cái thực tại đáng buồn bởi sự cô đơn ư? Hình như không phải là như thế, mà chỉ là em muốn khẳng định cái khả năng sống và yêu một mình, có nghĩa là khả năng tồn tại. Em thương nơi chốn này, góc cỏ hoa này, buổi chiều này, vì bởi mọi thứ khiến cho nỗi cô đơn trong em chợt nhỏ đi. Và anh, bằng một cách nào đấy bỗng trở về bên em, dù chỉ là bóng không có hình và không hơi thở…

Hoàng hôn tháng Chạp dường như không quá nhanh. Tôi cảm nhận buổi chiều đi chậm lắm. Nắng cứ còn mãi dù yếu dần. Và bầu trời trước mặt cứ giữ mãi thứ ánh sáng tim tím nhàn nhạt. Vườn Thủy Trúc không lớn nhưng không gian nơi đây thì chứa đựng cả buổi chiều, cả nắng gió và những cơn mưa, cả hiện tại và quá khứ. Góc vườn này tôi và hoàng hôn thứ bảy vẫn cứ đợi chờ anh !

NHỮNG GIẤC MƠ KHÔNG BAO GIỜ THUỘC VỀ MỘT CUỘC ĐỜI

Anh không thuộc về em.

Như đồi dã quỳ vàng không thuộc về mặt trời.

Như những cánh chim không thuộc về hoàng hôn lặng gió

Như những nụ hôn khuya không  thuộc về một dấu môi.

Hạnh phúc sẽ không bao giờ thuộc về em. Tình yêu cũng vậy-sẽ chết theo những cánh vàng quỳ khi mùa đông trôi qua. Tình yêu ấy, nơi anh, là cánh chim không bao giờ biết mỏi, vô tình chợt đậu trên một góc hoàng hôn, suýt xoa thương cho buổi chiều không có nỗi một giấc mơ bởi vầng mây ảm đạm. Và tình yêu ấy, tự những ngày đã qua, đi qua, trôi ngang qua một cuộc đời, xuyên thủng một trái tim vốn chẳng còn lành lặn ngay từ đầu!

Mùa này cuối chiều trời thường nhiều gió chướng. Em úp mặt vào lòng cơn gió những mong tìm kiếm được một sự thông cảm hay an ủi nào đấy. Biết là hư ảo, biết là dối lừa mà vẫn cứ lao đi như kẻ mộng du. Ừ mà có lẽ em đã mộng du quá lâu trong chính cuộc đời của mình, trong chính xác thân mình, lâu và quen đến độ đánh đồng mọi thứ – thật và ảo! Cái giá phải trả cho một cuộc đời đầy ảo vọng là quá lớn, biết đến khi nào mới trả cho xong, khi đôi tay mỗi lúc một ngắn lại và thịt xương thì mỗi ngày một rệu rã thêm hơn.

Hạnh phúc sẽ không bao giờ thuộc về em, hay thuộc về một lòng thương cảm. Tình yêu sẽ không có chỗ đứng trong sự vay mượn và những phiền hà. Cho dù phải cắn môi đến bật máu thì tiếng thở dài vẫn rùng rục chạy như đoàn tàu đêm xuyên qua huyết quản. Nhói lên từng cơn thô ráp, xù xì, đắng và tàn độc! Em tự hỏi tại sao vậy, mình đã đánh mất điều gì ư, ồ không, vì mình chưa từng có bất cứ thứ gì để mà mất ! Thật vậy sao, chẳng lẽ mọi thứ đều là những trò Game ảo, khi “Game over” thì chấm dứt tất cả ? Có lẽ vậy. Đúng không anh?

Hạnh phúc chưa bao giờ thuộc về em, hay thuộc về một kẻ hành khất. Như cô bé bán diêm chưa bao giờ có được một mái ấm thật sự yêu thương. Tình yêu ấy chỉ là ngọn lửa cháy bùng theo chiếc que diêm,rạng rỡ một khoảnh khắc, sưởi ấm một đôi lần, rồi từ từ lịm tắt. Ánh sáng ấy chưa bao giờ thuộc về cuộc đời em, mà chỉ có bóng tối, bóng tối và thứ đêm đen mịt mùng đặc quánh dành cho một cánh cò…! Có lẽ chưa bao giờ em thấy thấm thía với hai từ “Mất” và “Không”. Em cứ ngỡ mình mất, nhưng thực tế không phải vậy. Cô bé bán diêm không mất những hạnh phúc trong đốm lửa que diêm, vì cô chưa từng bao giờ có nó. Cuộc đời cũng vậy thôi, chỉ là một giấc mộng Kinh Kha!

Cuối năm trời thật nhiều gió. Gió gạt những chòm mây như ngón tay anh ngày nào vén mái tóc em xanh. Gió mơn man trên da thịt như những nụ hôn của quá khứ hôm xưa. Gió thì thầm những ngôn từ diệu vợi tựa câu nói ai kia còn đọng mãi trong tim. Trái tim, dù có rỗ nát cũng không thể làm rơi ra những kỷ niệm. Vì kỷ niệm đã trở thành chính cuộc đời ta đó.

Hạnh phúc và Tình yêu chưa bao giờ dành cho em, nhưng kỷ niệm thì mãi mãi thuộc về em, bất khả tư nghì!

Anh không thuộc về em

Như mùa xuân không thuộc về những cánh én

Như bầu trời sao đêm không thuộc về đôi mắt long lanh

Như giai điệu Nocturne không thuộc về những cánh đỗ quyên trắng thì thầm ngoài hiên vắng.

Và – những cơn mơ sẽ chẳng bao giờ thuộc về một cuộc đời…