TÀN CUỘC MỘNG
Rồi mai tan giấc hoàng hoa
Ngày đi tơi tả chiều qua hững hờ.
Tà huy thôi đượm trời mơ
Tình như lá rụng ven bờ sông xưa.
Mộng đầu khép nép song thưa
Nguyệt Quỳnh hội ngộ hương xưa giấc nồng
Vỡ rồi một mảnh trăng hồng
Tàn rồi một cánh quỳnh hương đêm nào
Mai về đoản mộng trăng sao
Mình ta vỗ giấc xanh xao với tình
Hoa mơ còn đọng hương trinh
Người mơ đã vội treo tình buông tay
Ừ thôi tàn cuộc yêu này
Ừ thôi khép lại mưa mây bên đời
Thì người thả mặc hoa trôi
Thì ta về lại cuối trời đếm sao!
BỤI THỜI GIAN
Tháng Giêng đi qua còn ta ở lại.
Nép mình bên bờ vực thời gian. Đen ngòm. Lởm chởm rong rêu há miệng chực nuốt trôi dĩ vãng.
Ta ném từng viên đá sắc cạnh mang tên giờ, phút, giây…tung ngược vào quá khứ.
Hỏi tim mình còn ứ nóng những tình thơ? hay bục vỡ? hay lạnh khô nứt nẻ?
Vang động tiếng cười đủ mọi âm giai! Huyễn mộng!
Tháng Giêng đi qua mùa trăng còn ở lại.
Gót chân sen xây xước đá thời gian. Gót chân con gái suốt đời đi tìm những lời thơ vừa vặn với khuôn trăng không thể có.
Trăng suốt kiếp vẹn tình dẫu thời gian vô thủy vô chung. Vô lý mà hữu lý.
Tháng Giêng trôi trên những vàng hoa xa ngái. Tít tắp rụng đầy một ký ức mãi xanh nguyên.
Những xác tình phơi phóng hóng bụi thời gian khô dần trên lưng con tháng Giêng cần mẫn. Cần mẫn đi về rạng rỡ rồi lịm tắt giữa vũ trụ không tên.
Tháng Giêng ngồi đấy, ta ngồi đây, đối diện trong từng sát na ký ức.
Bất chợt nghe tâm hồn mình rưng rưng hỉ nộ…
Ta lượm lặt từng hòn sỏi cuộc đời khảm lên tên tuổi. Gồ ghề hay nhẵn thin?
Có nghĩa gì đâu rồi cũng trả lại càn khôn.
Một bước chân qua nhật nguyệt phì cười – bình thường thôi, cũng xác thân thịt da rồi mốc meo thối rữa…
Bụi thời gian – không màu vẫn cứ mãi vô tư !
TRĂNG MƯỜI SÁU
Trăng mười sáu. Em mười sáu trăng xưa
Nỏn non trăng gối bên thềm
Trăng bình yên. Em hồn nhiên ngày cũ.
Sóng trăng buông mở rũ mềm tóc xanh
Trăng vời vợi. Em ngời ngợi xuân thì.
Lả lơi trăng gọi sao trời
Trăng hẹn thề. Em say mê thưở ấy!
“Nhìn trăng sao nỡ để lời thề bay”***
Trăng mười sáu. Em qua cầu – gió đưa
Xông xênh trăng lội lên ngàn
Trăng buồn tênh. Em mông mênh giữa dòng
Ơ hờ… trăng ngã dưới làn sông đêm…
Trăng bâng khuâng. Em qua rồi tuổi xuân
Mong manh một tiếng bên trời
Trăng không già. Em nhớ khúc tình ca
Lời yêu còn đó mấy đời trăng xưa
*** Thơ Phạm Thiên Thư
KHÚC MÙA NGÂU
Tôi biết anh vào độ giữa thu, khi mùa ngâu vảng vất những cơn mưa thật ngắn và lễ Vu Lan đằm thắm trong tiếng chuông chùa. Có một ít thơ anh làm quà tặng tôi, thơ anh và cả thơ người, nhè nhẹ – buồn buồn. Tôi nhận những lời thơ ấy, nhận ánh mắt và bàn tay anh bối rối, đơn giản hiểu đấy là tình yêu, một tình yêu thật lạ, trong ngần như hạt mưa nghiêng. Tình yêu phả vào cuộc sống chúng tôi sắc hương của thời niên thiếu. Dẫu tóc có bạc mấy màu thì tình yêu ngày ấy có lẽ vẫn xanh nguyên.
Tôi thương anh từ những câu chuyện kể bật máu trên làn môi khô, lần lữa lật qua từng trang dưới ánh tà huy, thoảng hương trà lài, hoặc là một ít men bia nồng nồng không đủ để chìm vào một cơn say. Từng thước phim đã cũ mốc nhưng vẫn tái hiện một đời người, lao đao vì đã trót hiểu quá rõ những sự thật mà lẽ ra nếu không biết thì dễ tồn tại hơn. Tôi thấu được nỗi đau của một đứa bé có cha “mất tích” trong chiến tranh, để dẫu muốn vẫn không được quấn một vành khăn tang hay chọn một ngày gọi là “giỗ cha”. Tôi cảm được thân phận của người góa phụ ba mươi tuổi gồng gánh ba đứa con thơ đi tìm chồng suốt một nửa chiều dài đất nước trong loạn lạc nhiễu nhương. Tôi hiểu được cái nghèo đói rách nát gói ghém bên trong sự uất ức của một gia đình làm nghề nông nhưng chưa bao giờ có được bữa cơm no đủ. Tôi hình dung rõ nét những ngày tháng khủng khiếp ở vùng quê khốn khổ ấy mà lịch sử sẽ không bao giờ chối bỏ được. Tất cả là một bức tranh dã man khổng lồ về những cuộc đời lấm lem bùn đất bị lấp vùi sau lũy tre làng. Và anh, đã đào thoát khỏi cuộc sống tăm tối ấy cùng với một tia hy vọng còn sót lại. Niềm tin mong manh trong anh đã được cấy lên từ gốc rạ khô, từ ruộng lúa hẹp gầy như thân mẹ, từ những buổi chăn bò chăn vịt ngửa mặt nhìn mây, và ôm vào lòng những trang thơ Bùi Giáng, Phạm Công Thiện… mà ai đó đã thương tình cho mượn đọc. Thoát ly – như bao con người nơi đấy đã mím môi quay mặt, cố trốn chạy khỏi cơn ác mộng rùng rùng tiếng loa ngày đêm xướng tên những người nông dân còn nợ thóc đóng cho hợp tác xã, cơn ác mộng với con dấu sỗ sàng trên chứng minh thư đánh dấu kẻ đáng bị trừng phạt để luôn luôn bị chối từ hoặc bị đẩy xuống hàng dưới cùng trong tất cả những cuộc xếp hàng đi xin xỏ quyền được sống và quyền được đối xử như một con người, cơn ác mộng bị bao vây giam hãm bởi sự dốt nát chữ nghĩa và dốt nát cả đạo lý làm người. Cuộc đào thoát mấy mươi năm liền vẫn chưa có điểm dừng cho đến ngày anh gặp tôi!
Tôi không nhớ đã uống cùng anh bao nhiêu tuần trà từ đầu những hoàng hôn cho đến lúc trăng lên cao. Không nhớ chúng tôi đã hát cho nhau nghe bao nhiêu khúc tình mưa nắng. Không nhớ anh đã đưa tôi đi qua biết bao con đường có bụi mù, cỏ hoa, dòng sông, mây và biển… Chỉ nhớ rằng dạo ấy tình thơm hương cây trái. Những chiều cuối thu tôi đứng đợi anh nơi góc vườn xào xạc gió, tóc xõa ngang trời lưng lững màu mây. Anh nói khẽ – sẽ nhớ mãi mùi hương tóc em…! Còn tôi, cất sâu trong ký ức đôi mắt trong như trẻ thơ và nụ cười rạng rỡ đến mức không có tuổi của anh. Những buổi chiều như thế cứ cuộn theo chuỗi mùa mưa nắng, có sắc vàng khô của lá rụng đầy con đường quen, có sắc trong ngần của nắng hối hả trên hè phố, có sắc bạc mờ của cơn mưa vỡ nghiêng giữa không trung, và đôi lần, những ngón tay chợt tìm đến nhau như tín hiệu của một sự kết nối giữa nhịp đập hai trái tim. Những khi ấy tôi biết rõ anh là ai trong thế giới của riêng tôi, và cũng biết rõ anh không thể thuộc về đời sống này, bởi anh chẳng còn gì ngoài đôi tay trắng trơ giữa nhân gian này. Và tôi luôn hiểu rằng mọi điều anh mang đến cho tôi rồi sẽ kết thúc thật nhanh, như một thoáng mưa ngâu tháng bảy.
Và thế, anh ra đi mang theo những câu chuyện kể, những lời trần tình từ dòng thơ xanh ngẫu hứng, những nhật nguyệt anh kết vào mái tóc em, và cả những bi phẫn anh ném vào cuộc đời này. Anh, người nghệ sĩ yêu quê hương bằng tình yêu chân chất của một người con lớn lên từ đất, yêu tiếng hát và những giai điệu đẹp của tâm hồn biết cảm xúc trước nỗi buồn của dân tộc mình. Với tôi anh là người nghệ sĩ cho dù anh chưa bao giờ viết trọn một bài thơ. Anh ra đi, cũng lại là một buổi hoàng hôn vàng ươm mùa cuối năm lắt lẻo một cơn mưa lạ. Anh ra đi, bước qua bên kia đời, bỏ tôi đứng lại bên này với một trời mây trắng …
Những kỷ niệm, anh để lại chỉ riêng mình tôi ôm giữ. Những kỷ niệm luôn phong phanh áo mỏng để chỉ cần chạm khẽ là sổ tung không e thẹn và vồ vập trái tim tôi. Những kỷ niệm anh buông hết vào quá khứ để tâm hồn nhẹ hẫng anh bước sang một thế giới khác không có tôi nơi ấy. Những kỷ niệm khảm vào ký ức, vào tâm hồn tôi mỗi lúc một sâu hơn, thảng thốt tôi nhận ra xen lẫn vào đấy một niềm đau ngà ngọc. Và tôi bắt đầu vẽ lại tất cả những kỷ niệm ấy, từng nét một, nâng niu tình yêu trinh nguyên chúng tôi đã giành cho nhau, dù cuộc tình trôi qua tháng ngày có mong manh như khúc mùa ngâu!
TÌM NHAU
Tìm nhau trong hương mùa đã cũ.
Bước chân chiều bỗng hoang vu.
Tìm trong những ngày tháng âm u
Đôi tay gầy sao hóa thành lạc lõng.
Tìm nhau trong tiếng lá
Lời hát xanh ngày nào chợt vàng úa trên cao
Tìm nhau trong mắt nắng
Nắng giờ đã rong rêu…
Tìm nhau ta tìm nhau một đời dẫu một thời rất ngắn cho nhau dẫu cuộc tình xưa ấy mong manh. Tìm nhau ta tìm nhau trong âm thầm nghe những thương đau trong ngại ngùng chia nhau lầm lỡ trong bàng hoàng qua hết cơn say…
Tìm nhau khi bóng đổ
Tìm nhau trong xưa ấy
Tìm nhau khi mưa lên khi trăng tan khi nắng tắt
Tìm nhau trong phân ly
Tìm nhau trong nỗi chết
Tìm anh. Em tìm anh sao không thấy…?
Tìm thôi sau cơn mê
Tìm cơn đau đứt đoạn
Tìm nhau đi cho trọn cuộc tình mau…
*** Cũng bởi vì “Tìm nhau” của Phạm Duy!
Viết ngắn : CHIỀU MÙNG 3
Chiều mùng 3 bồng bềnh trong cơn mưa nghịch mùa nghịch cả lòng người. Có phải xuân không anh sao Sài Gòn của mình nhũn nhão những tầng mây? Cơn mưa trắng lạ lùng khó hiểu như niềm nhớ trong em cứ vơi cạn một ngày rồi lại đầy tràn mông mênh. Khó hiểu tựa như anh vừa bước ra từ trong giấc mơ em! Để rồi em nương theo cơn mưa phi lý ấy – trôi dạt bất kể vào lòng phố… Em không biết mình muốn tìm kiếm những gì. Chỉ biết mình lang thang trong nỗi niềm vời vợi giữa một mùa xuân lênh đênh những cội mai vàng óng và những hạt mưa nghiêng.
Chiều mùng 3. Mùa xuân vẫy cánh tay nuột nà gọi em vào lòng phố xá. Những lối xưa quen. Cổng trường hôm nào anh vẫn đứng đợi em trong dáng dấp bất cần, hôm nay chợt vắng lặng, im lìm. Con đường ngày tháng nào mình đi qua cũng chẳng có nhiều đổi thay. Vẫn vậy. Chỉ riêng mùa xuân là khác đi trong hơi thở. Như một quán tính, em thấy mình đi trên lối cũ…có một mùa xuân đã già bước song hành. Tìm lại hình bóng ngày xưa hay là muốn đối diện chỉ với chính mình? Em không biết. Nhưng em thấy nhớ nơi chốn ấy. Nhớ những thoáng hoàng hôn rớt vàng trên thềm lá. Nhớ mái tóc thủy trúc lõa xõa trên những bông súng trắng. Nhớ màu xanh thăm thẳm ấp giữ từng giọng hát và những giai điệu đã đi qua một thời vàng son. Và nhớ anh, nơi góc quán quen thuộc, ngồi mãi cùng em, long đong ngược về biết bao tháng ngày quá khứ, có cả tiếng cười và cả nước mắt, có cả những bài thơ và câu chuyện kể, có hết thảy những xót xa, uất ức, thương yêu, hy vọng… Nhưng rồi em lại sợ. Sợ đối diện với sự cô đơn và nỗi buồn trong chính mình, và thế là em vụt chạy khỏi nơi chốn ấy, bỏ lại sau lưng điều mà em hăm hở muốn tìm lại. Em yếu đuối và em mâu thuẫn. Phi lý như cơn mưa lạ giữa ngày mùa xuân!
Chiều mùng 3 và mùa xuân vẫn còn ríu rít nơi thành phố nhộn nhịp này. Không trở lại chốn cũ nhưng vẫn phải tìm cho mình một góc thật riêng. Để được lặng thinh, đơn giản thế thôi. Bước vào một quán café lạ, tìm một chỗ ngồi thật khuất. Nơi đây, em hiểu rằng mọi thứ đều đã ở lại phía bên cuộc sống hiện tại. Gọi một ly café đá. Café sao đắng hơn trong sự hình dung của mình. Có lẽ do anh Tuấn Ngọc hát buồn quá, anh hát như không hát gì, như lời tự sự, như kể mình nghe một chuyện tình buồn! Có phải âm nhạc là chiếc thuyền vọng tưởng, đưa con người xa rời thực tại, khiến mình đau hơn những gì đáng phải đau, và sướng hơn những gì đáng phải sướng?
Buổi chiều đã dừng lại nơi cuối phố. Và bóng tối đã tràn về. Cơn mưa cũng đã ngấm vào lòng đất. Mùa xuân vẫn vất vưỡng trên cành mai đong đưa những đóa vàng trước mặt. Ai đó có thể cùng chia với mình vị đắng của ly café chiều mùng 3 này? Em để nỗi nhớ sang một bên, gấp nỗi buồn làm tư làm tám cho đến một kích thước nhỏ nhất có thể, và bắt đầu kể lể…về những xúc cảm lẩm cẩm của mình – cho một người bạn, hay không phải một người bạn, mà là một “điều gì đó” không định nghĩa không tên gọi, và em không mong mỏi chờ đợi sự phản hồi, tựa như gởi một chiếc hôn vào gió. Em không hiểu nữa “điều ấy” ạ, chỉ cảm nhận rằng “điều ấy” có thể nhận hộ em những điều trong em, cho dù là vui hay buồn, nhận và giữ thôi chứ không hẳn là phải xử lý. Và lạ lùng thay, “điều ấy” đã lên tiếng. Một tiếng nói bỗng trở thành vô cùng quý giá giữa sự lặng yên. Xin cảm ơn “điều ấy” thật nhiều. Và xin nhận lấy lời cảm ơn như đã cho đi sự chia sẻ, như một niềm vui lạ giữa chiều xuân!
TRÍ THỨC NGÀY NAY VÀ GIÁ TRỊ PHẢN BIỆN
Có lẽ mãi cho đến những năm đầu của thế kỷ XXI thì người dân Việt Nam mới bắt đầu hiểu được thế nào là sự tiện ích của INTERNET. Tôi còn nhớ vào khoảng từ năm 2003 trở về trước người ta thường chỉ sử dụng phương tiện truy cập mạng internet qua tổng đài VNN 1268/1269 và thanh toán cước phí theo dung lượng truy cập. Cho đến nay, trải qua một thập niên phát triển, dịch vụ internet đã phủ gần kín các tỉnh thành trên cả nước, và tỉ lệ người dân biết sử dụng cũng đã tăng lên đáng kể. Cùng với sự bùng nổ của việc phát triển internet là sự tiếp cận thông tin ngày càng nhiều và đa dạng của người dân, đặc biệt là giới trí thức, văn phòng, sinh viên học sinh. Những phương tiện thông tin truyền thống như báo giấy, truyền hình, truyền thanh đã không thể đáp ứng được đầy đủ và kịp thời nhu cầu về thông tin của xã hội ngày nay. Cũng nhờ có công nghệ internet mà người dân sống trong một xã hội văn minh đã có thể sàng lọc và dung nạp cho chính mình những thông tin cũng như sự hiểu biết cần thiết về bất cứ một vấn đề nào.
Tôi muốn nhắc đến sự tiện ích của công nghệ thông tin trước khi đề cập đến chủ đề chính của entry này để xác định rằng, mọi nhận thức và quan điểm của tôi được cấu thành từ các nguồn thông tin thu thập trên các trang mạng xã hội, các trang tin quốc tế, báo điện tử (báo chính thống hoặc báo dân), các blog cá nhân… Tất nhiên, với một khối lượng thông tin khổng lồ như thế, người tiếp cận cần phải chắt lọc và tư duy theo khả năng nhận biết và đánh giá của chính mình. Với sự hữu hạn của một trang blog cá nhân, và chỉ có một số friend trong vòng mươi người có thể đọc và trao đổi quan điểm, thực lòng tôi chỉ muốn viết về vấn đề mà tôi vẫn quan tâm này với mục đích đánh dấu hoặc là khoanh vùng nhận định của chính mình tại thời điểm hôm nay.
Trong khoảng thời gian từ trung tuần tháng 01/2011 đến nay, cộng đồng mạng đang xôn xao trước bài phỏng vấn Giáo sư Ngô Bảo Châu do Báo Tuổi Trẻ thực hiện. Để trả lời một câu hỏi quan điểm của ông như thế nào về vai trò người trí thức đối với sự phản biện xã hội, vị giáo sư đã không làm hài lòng nhiều người khi ông đưa ra định nghĩa về “trí thức” cũng như sự liên quan của giới trí thức với phản biện xã hội. Tôi đã đọc khá kỹ bài phỏng vấn này cũng như đọc khá nhiều các bài viết, ý kiến phản hồi của cư dân mạng. Tất cả những bài tiêu biểu đều có lập luận khá vững chắc và mang tính thuyết phục. Tôi không phải là một người trí thức, nhưng tôi là một công dân “chính hiệu” trong xã hội này và thuộc về đất nước này, cho nên tôi tự cho mình cái quyền được quan tâm đến những vấn đề mang tính xã hội. Và tất nhiên, phát biểu của những người trí thức (có thừa) đã trở thành “người của công chúng” như Ngô Giáo sư sẽ là một vấn đề hết sức quan trọng đối với cá nhân tôi. Cũng có thể điều ấy là biểu hiện của hội chứng “dựa dẫm niềm tin”, tức là bạn sẽ luôn đặt niềm tin vào ý kiến của nhân vật đại diện cho một giới nào đấy trong xã hội mà bạn tin tưởng và ngưỡng mộ. Ví dụ như tôi đã trót tin tưởng vào tầng lớp trí thức của đất nước này, vì thế phát biểu của GS Châu há chẳng phải là điều quan trọng đối với tôi hay sao? Thực ra đấy chỉ là một cách nói ẩn dụ. “Tôi” ở đây chính là lớp người trẻ, đang được giáo dục trong hệ thống này hoặc vừa mới trưởng thành cũng từ hệ thống này. Với họ, GS Ngô Bảo Châu cũng gần như là một thần tượng về tinh thần học tập và tấm gương sáng của tầng lớp trí thức. Thế nhưng, tôi cảm nhận có điều gì đó khúc mắc trong định nghĩa của ông về giới trí thức. Ông nói :
“Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc… Giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội”
Đấy là nói về khái niệm trí thức, còn về giá trị của phản biện xã hội, ông nhận định :
“Phản biện xã hội không phải là chỉ tiêu để phong hàm trí thức”
“Việc đưa ra các phản biện có lập luận chặt chẽ là những đóng góp lớn cho xã hội, cho đất nước của giới trí thức…Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng.”
Theo ông, phản biện xã hội không phải là trách nhiệm của trí thức, mà là của toàn xã hội, bất kể là doanh nhân, công nhân, nông dân… và người trí thức không cần thiết phải biết phản biện.
Facebook, một trang mạng xã hội lớn nhất thế giới hiện nay, gần như sôi lên sùng sục trước những nhận định của NBC, theo nhận xét của nhà văn NQL. Mà đúng như vậy thật, chính tôi cũng đang cần mẫn theo dõi cư dân mạng “ném đá” GS.NBC, lẽ dĩ nhiên không phải vì tò mò mà vì tôi nhận thấy đấy chính là vấn đề lớn của xã hội. Nếu tất cả mọi người đều thờ ơ với những diễn biến đang xảy ra hằng ngày trong xã hội mà mình đang thuộc về nó thì đừng nên đòi hỏi cái gọi là quyền làm người trong xã hội ấy, tự mình đã tước bỏ quyền căn bản của chính mình rồi.
Trở lại vấn đề của trí thức và sự phản biện xã hội, mà bài phỏng vấn GS.NBC đang trở thành tiêu điểm trong mấy ngày nay trên thế giới mạng. Nếu bạn đang đọc entry này của tôi, chịu khó theo dõi đến đây, có nghĩa bạn cũng đã biết qua scandal này, hoặc đang nhủ lòng sẽ tìm hiểu trờ lại các thông tin nếu bạn chưa xem qua. Cũng như bạn, tôi đã đồng ý, hoặc không đồng ý một số quan điểm của NBC. Trong mỗi người chúng ta ai cũng có chính kiến riêng của mình, và tôi cũng đang rất muốn nghe ý kiến của bạn. Thật sự, tôi khá “shock” trước câu trả lời phỏng vấn của ngài Giáo sư. Khi kết nối các phát biểu với nhau, tôi sửng sốt nhận ra , hóa ra NBC đã cho rằng cái chết lâm sàng của một xã hội thì không liên quan gì đến giới trí thức! Thật đau lòng. Niềm tin của tôi gần như nứt toác…
Trên thực tế, bản thân tôi luôn tách bạch trong khái niệm về giới trí thức Việt Nam hiện nay. Tôi không định nghĩa như NBC, có nghĩa trí thức là người lao động trí óc. Với tôi đấy chỉ là người lao động trí óc đơn thuần, không phải trí thức. Hoặc như một số “thuật ngữ” mới ra đời hiện nay, đó được gọi là “trí thức trùm mền” hoặc tương tự đó là “trí ngủ” (ngủ thì phải trùm nền thôi!). Anh chỉ biết lao động và lao động mà không quan tâm gì đến những điều đang tồn tại trong xã hội, mặc nhiên chấp nhận tất cả như những gì mà nó đang có hoặc đồng tình với mọi sự áp đặt, thì như vậy “thức” của anh để ở đâu? Phản biện là một động thái thể hiện sự tiến bộ chứ không có nghĩa là chống đối. Một xã hội không thấy xuất hiện sự phản biện thì đồng nghĩa xã hội đó không có chỗ đứng trong thế giới văn minh, hay là đã chết lâm sàng theo kiểu nói của NBC, quá đúng! Trong một xã hội tiến bộ người ta luôn dạy cho trẻ em về sự phản biện. Tôi xin kể một câu chuyện ở nước Mỹ. Khi cháu tôi mới vừa sang định cư tại USA lúc bé được 16 tuổi, bé đã nhanh chóng trở thành học sinh xuất sắc môn văn chương. Thầy giáo người Mỹ hỏi bé:
- Mày nhận xét cách dạy học trong nhà trường ở Mỹ và Việt Nam nơi nào tốt hơn?
- Mỹ hay hơn! Cô Bé trả lời ngon ơ
- Nếu mày nói Mỹ hay hơn thế tại sao mày mới từ VN qua có mấy tháng đã đứng đầu lớp? Ông thầy cắc cớ hỏi lại.
- Tao là trường hợp đặc biệt, ở VN tao cũng hạng nhất trường, và chắc chắn là không có nhiều học sinh giỏi được như tao. Tao thấy cách dạy ở đây tốt vì luôn khuyến khích học sinh phát biểu ý kiến của mình, học sinh được hỏi nhiều hơn là nghe. Cô Bé không hề nao núng trước câu hỏi của ông thầy mũi lõ.
Câu chuyện có thật 100% và chỉ có như vậy thôi, nhưng từ ngày nghe câu chuyện ấy, tôi hiểu ra rằng nền giáo dục văn minh dạy cho con người ta biết phản biện ở tất cả mọi vấn đề. Tức là họ khẳng định quyền làm người, sống và được đưa ra ý kiến của mình. Tất nhiên, trong một cộng đồng, thì người có tri thức sẽ là người dẫn đầu trong việc phản biện xã hội, vì họ mới là người có cái nhìn sâu sắc hơn hết. Cho nên, nếu anh là người trí thức, buộc anh phải dấn thân, đấy là trách nhiệm của anh đối với xã hội. Anh có thể là người lao động trí óc, và không muốn dấn thân hay tham gia phản biện, anh không phạm luật gì cả, nhưng như vậy anh chỉ đơn thuần là người làm việc và kiếm tiền dựa vào mớ kiến thức hay kỹ năng mà anh có được thế thôi. Tôi sẽ không coi anh là một trí thức đúng nghĩa.
Câu chuyện trên là ở đất Mỹ. Còn ở Việt Nam, tôi có khá nhiều bạn bè, người quen được tạm gọi là “trí thức” vì họ cũng lao động trí óc. Nhưng hình như hội chứng vô cảm đang lan nhanh trong giới này. Một người bạn khá lớn tuổi của tôi, anh vẫn hằng ngày đứng trên bục giảng, thuyết trình về hàng tá vấn đề chuyên môn gai góc hoặc mang tầm “vĩ mô”, chắc chắn đấy là một “trí thức” nếu như thẩm định bằng nghề nghiệp. Thế nhưng hầu như anh ta chẳng biết một tí ti gì về những sự kiện nóng bỏng đang diễn ra ngày một trên đất nước này, ngay cả về vấn đề an nguy của tổ quốc. Tôi không nghĩ anh ta có lỗi, nhưng tôi cho rằng anh hãy đừng tự phong hàm trí thức cho mình! Tôi cảm thấy ngày nay những người chữ nghĩa một bồ lại chả quan tâm gì đến cái gọi là “phản biện”, hoặc là họ hãi sợ khi ai nhắc đến hai từ đó, nhất là đối với những người đã tạo được cho mình một vị trí nghề nghiệp khá vững chắc hoặc một cuộc sống ổn định với nhà lầu xe hơi. Có lẽ, đã quá lâu rồi, kiểu giáo dục theo phong cách photocopy, áp đặt, đã rèn con người ta trong cái lò tự ti và sợ hãi, đến nỗi con người quên mất cái quyền cơ bản của mình, đó là quyền được đòi hỏi một cách chính đáng. Suy cho cùng, chính hệ thống là điều cần phải xem lại.
Tản mạn khá nhiều từ scandal NBC, tóm lại, tôi cho rằng phản biện xã hội luôn luôn có giá trị đối với quá trình phát triển của một đất nước. Phản biện không dùng để phong hàm trí thức, đúng, nhưng một trí thức mà không biết phản biện một lần trong suốt cuộc đời của mình đối với hệ thống mà mình đang tồn tại thì chỉ có nghĩa là một người lao động trí óc mà thôi. Chấp nhận sự phản biện xã hội có nghĩa là phải dấn thân, phải đi đầu. Và như thế, một trí thức đúng nghĩa phải là người biết nhận ra giá trị phản biện và luôn luôn phải dấn thân khi cần thiết.
DU XUÂN SÀI GÒN
MÙNG 1 TẾT NHÂM THÌN
Đã quá nửa đời người để có một sáng Mùng 1 tết thật lạ như thế với tôi ở Sài Gòn này. Bốn mươi mấy mùa xuân đã đi qua, nhưng có lẽ chưa bao giờ tôi thức dậy trước mặt trời, và cũng chưa bao giờ nếm trải cái hương vị mùa xuân trong vắt của một buổi sớm tinh mơ. Và tất cả mọi điều vẫn còn như đang mê ngủ sau một đêm đón Giao thừa tưng bừng ánh pháo hoa. Mới 4h30 sáng, leo lên con ngựa sắt quen thuộc phóng vi vu trên phố, khe khẽ run vì một cơn gió sớm luồn qua áo mỏng. Không có xe cộ chạy trên đường, nhưng thi thoảng ở các quán café cóc thiên hạ tụ tập rất đông, xe hai bánh xếp từng dãy dài. Đa phần là thanh niên, có lẽ họ vẫn còn say sưa với không khí Giao thừa ở trung tâm thành phố. Cơn mưa nhỏ trước giờ Giao thừa đêm qua vẫn còn để lại trên mặt đường nhựa những vết loang ẩm ướt.
5g30 tôi và gia đình cậu em trai đã có mặt ở đường hoa Nguyễn Huệ. Những ngày trước nơi đây cực kỳ đông đến không thể chụp nổi một kiểu ảnh nào. Cậu em bảo tôi, năm ngoái mới 6g sáng thiên hạ đã kéo ra đầy nghịt, thế mới biết người Sài Gòn chịu chơi cỡ nào. Đường hoa đã biết bao năm rồi cũng không có gì lạ trong cách thiết kế. Đây là một ý tưởng mới xuất hiện lần đầu vào năm 2004, thay thế cho “Chợ hoa Nguyễn Huệ” đã tồn tại như một nét văn hóa truyền thống của người dân Sài Gòn trong suốt gần một thế kỷ. Và việc thay thế, đổi mới này đã phải trải qua nhiều sự tranh cãi. Đến nay thì lớp trẻ của thành phố này đã không còn biết gì đến chợ hoa Nguyễn Huệ xưa kia nữa. Ít nhiều tôi cũng thấy chạnh lòng… Nhưng thôi, đường hoa Nguyễn Huệ bây giờ cũng có cái hay riêng, tất nhiên là như thế, nhưng tôi chợt nghĩ, giá như người ta còn biết trưng bày hình ảnh của Chợ hoa Nguyễn Huệ ngày xưa trong những ap-phích quảng cáo về Sài Gòn trên đường hoa này thì hay biết mấy.

(Chợ hoa Nguyễn Huệ năm 1970)
Tết năm nay Sài Gòn không nắng gắt như mọi năm. Đã gần 6g mà mặt trời vẫn chưa lên. Không đủ ánh sáng để chụp hình nên bọn tôi kéo nhau vào một quán café vỉa hè, làm vài ly café sữa nóng và ngắm phố vắng người trong khi đợi ông mặt trời tỉnh ngủ hẳn. Cô bé bán quán hôm nay cũng diện váy ngắn màu hồng thật xinh, cô khiến cho cái góc đường này ngập đầy một mùa xuân. Từ một hotel gần đấy bỗng một “bầy tiên nữ” túa ra với đồng phục sườn xám ngắn, guốc gỗ, nàng nào cũng nõn nà khoe đôi chân dài trắng muốt. Các nàng vừa đi vừa cười nói xôn xao làm mấy anh chàng Tây mũi lõ đang chạy bộ tập thể dục phải ngoái lại nhìn. Sài Gòn buổi sớm với những hoạt động bình thường như thế bỗng trở nên duyên dáng hơn trong không khí ngày xuân.
Bình minh vừa nhú lên trên nóc những tòa cao ốc. Khách du xuân cũng đã đến khá đông.Bọn tôi chụp nhanh vài kiểu ảnh ở đường hoa rồi vù ra khu vực Nhà thờ Đức Bà. Sài Gòn của tôi sáng nay xinh đẹp lạ thường, tất cả mọi thứ đều mang dáng vẻ tinh khiết. Công viên dưới chân tượng Đức Mẹ cũng có lác đác vài người khách bộ hành và đặc biệt, một đàn bồ câu đang tung tăng tìm mồi . Khi tiếng nhạc trong giáo đường vang lên đàn chim đột nhiên tung cánh, chúng lượn thành nhiều vòng tròn quanh nóc nhà thờ rồi đậu trên mái vòm. Một hình ảnh hết sức tuyệt vời, mang lại cho mọi người cảm xúc về sự bình yên giữa một sớm mùa xuân!
Chúng tôi đi qua nhiều con đường và ghi lại một vài hình ảnh, vì sẽ hiếm khi nào bắt gặp Sài Gòn trong cái vắng lặng như thế. Những ngôi nhà như vẫn còn say giấc. Ngoài hè phố sắc màu của hoa xuân đang rực tràn … và đây đó tiếng trống lân đang vang lên từng hồi náo nức…






Trở về sum họp gia đình quanh cội mai súng sính nụ xanh và bắt đầu bung nở những cánh vàng từ dưới gốc. Tôi thích loại mai năm cánh tròn đều mang màu vàng óng ánh như thế này. Những chiếc nụ búp tươi rói vươn lên thẳng đứng và bám chắc chi chít trên cành hứa hẹn cho những ngày Mùng 2, Mùng 3…. Cậu em tôi thích mai, năm nào hắn cũng tuyển những cội mai có thế rất lạ từ Đồng Tháp mang lên. Gặp khách sộp nào ưng ý, hắn “gả” ngay, kiếm lời vài chục triệu. Từ lâu, tôi vẫn mơ ước có một cái Tết đoàn tụ đủ mặt 3 thế hệ nhà mình, nhưng có lẽ điều ấy hơi khó thực hiện. Ngày nào anh em, con cháu còn đông đủ chưa có người ra đi, thì vẫn còn hy vọng và thấy rằng dẫu sao gia đình mình cũng thật nhiều phúc đức.
Mấy anh em ngồi chuyện gẫu một lát, bọn tôi kéo nhau đi lễ chùa, trước là lễ Phật cầu xin gia đạo bình an, sau là viếng thăm cốt bố mẹ chúng tôi cùng được lưu gởi tại ngôi chùa này…















